Siết kiểm tra việc cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa Việt NamHàng loạt giải pháp cấp bách được Chính phủ ban hành trong Nghị quyết số 119/NQ-CP nhằm phòng chống gian lận xuất xứ.

Nghị quyết số 119/NQ-CP được ký ban hành ngày 31.12.2019 nêu rõ, trong thời gian qua Việt Nam đã tham gia ký kết và đàm phán 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Khi thực hiện các Hiệp định FTA này, phần lớn hàng hóa có xuất xứ Việt Nam được hưởng miễn thuế nhập khẩu khi xuất sang các đối tác FTA. Trong khi đó nhiều đối tác trên 
thế giới đang tăng cường sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp... với mức rất cao, gây nhiều hệ lụy và làm giảm khả năng xuất khẩu của nước bị áp thuế. Dẫn tới việc một số doanh nghiệp tìm cách gian lận xuất xứ hàng hóa, lợi dụng xuất xứ hàng hóa của Việt Nam để được hưởng ưu đãi, lợi thế thương mại hoặc lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thương mại quốc tế, đặc biệt là xung đột thương mại Mỹ-Trung, sự điều chỉnh chính sách của một số quốc gia đối tác lớn gần đây thì cần có giải pháp đồng bộ, hiệu quả để tăng cường quản lý nhà nước về ngăn chặn gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp nhằm phát triển bền vững xuất khẩu; góp phần bảo vệ và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanhtrong những ngành, lĩnh vực liên quan.
Do đó Chính phủ giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật như sửa đổi hoặc thay thế quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo hướng tăng mức xử phạt đối với các hành vi liên quan đến gian lận xuất xứ, giả mạo nhãn hàng hóa nhằm tăng tính răn đe.
Bộ Công thương phải theo dõi, thống kê, cập nhật thường xuyên và kịp thời cung cấp danh sách các mặt hàng bị điều tra, áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp cũng như các mặt hàng có nguy cơ bị gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp cho Bộ Tài chính và các bộ, ngành, tổ chức liên quan, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để tăng cường kiểm soát chặt chẽ, kiểm tra, thanh tra, đặc biệt đối với việc cấp C/O và giám sát hoạt động đầu tư, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu.
Bộ Công thương còn được giao tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các tổ chức cấp C/O và thường xuyên kiểm tra, giám sát các tổ chức cấp C/O (cả C/O ưu đãi và C/O không ưu đãi) bảo đảm tuân thủ nghiêm các quy định về xuất xứ hàng hóa. Cũng như tăng cường phối hợp giữa các tổ chức cấp C/O trong việc trao đổi thông tin; tăng cường hướng dẫn về chuyên môn và nghiệp vụ các cán bộ cấp C/O, nâng cấp cơ sở vật chất, lưu trữ hồ sơ, chứng từ... tạo thuận lợi cho việc xác minh xuất xứ khi có yêu cầu.
Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương thường xuyên giám sát, cập nhật thông tin dữ liệu về tình hình cấp C/O để phát hiện các diễn biến bất thường; tiếp tục triển khai rộng rãi cơ chế phân luồng trong việc tiếp nhận hồ sơ và cấp C/O, cập nhật thường xuyên danh sách các doanh nghiệp và mặt hàng trong diện nguy cơ rủi ro cao để đưa vào luồng đỏ. Cơ quan này cũng phải tăng cường theo dõi, giám sát đối với các doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ để tránh các trường hợp lợi dụng thực hiện hành vi gian lận về xuất xứ hàng hóa.  
Đối với Bộ Tài chính, Chính phủ yêu cầu chỉ đạo Tổng cục Hải quan theo dõi số liệu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng thuộc danh sách và các mặt hàng Việt Nam đang điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để hằng tháng cung cấp thông tin cho Bộ Công thương, Bộ Công an. 
Siết chặt công tác kiểm tra xuất xứ từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến khâu kiểm tra sau thông quan. Xây dựng mạng lưới nghiệp vụ để kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu...
Mai Phương

Quy định mới về hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài xuất cảnhBộ Tài chính ban hành Thông tư số 92/2019/TT-BTC ngày 31/12/2019 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 72/2014/TT-BTC quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hóa của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang theo khi xuất cảnh.
Thông tư số 92/2019/TT-BTC bổ sung quy định về hệ thống quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài và cách truy cập. Theo đó, hệ thống quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài là hệ thống tích hợp, lưu trữ, trao đổi thông tin liên quan đến việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân do Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành.
Các đối tượng được truy cập và trao đổi thông tin với Hệ thống: Cơ quan hải quan; Cơ quan thuế; Ngân hàng thương mại là đại lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài; Doanh nghiệp được cơ quan thuế công nhận là doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài.
Căn cứ các thông tin trên hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập xuất cảnh còn giá trị và hàng hóa được mua, doanh nghiệp bán hàng lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế cho hàng hóa trên Hệ thống hoặc phần mềm của doanh nghiệp kết nối với Hệ thống, nhập đầy đủ thông tin theo mẫu quy định, ký số, truyền các thông tin về hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế.
Trường hợp Hệ thống xảy ra sự cố, doanh nghiệp không truy cập được vào Hệ thống, doanh nghiệp lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo mẫu quy định, ký, đóng dấu và giao cho người nước ngoài. Chứng từ in ra là cơ sở để cơ quan hải quan kiểm tra đối chiếu với hàng hóa của người nước ngoài.
Ngay sau khi Hệ thống hoạt động bình thường, doanh nghiệp bán hàng cập nhật các thông tin đã lập tại hóa đơn giấy vào Hệ thống như trường hợp lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế trên Hệ thống. Hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế được cập nhật trên Hệ thống phải đảm bảo trùng khớp về số, ký hiệu, nội dung thể hiện trên hóa đơn giấy.
Thông tư số 92/2019/TT-BTC quy định, Tổng cục Hải quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị của ngân hàng thương mại, trình Bộ Tài chính lựa chọn Ngân hàng thương mại làm đại lý hoàn thuế theo đúng quy định và tiếp nhận hồ sơ đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, trình Bộ Tài chính lựa chọn sân bay, cảng biển quốc tế áp dụng hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài đảm bảo hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu quản lý.
Ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo, cơ quan hải quan thông báo bằng văn bản với Cục thuế quản lý doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế giá trị gia tăng các trường hợp sau:
Một là, doanh nghiệp không lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo mẫu trên Hệ thống hoặc lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế nhưng không truyền đến Hệ thống trừ trường hợp Hệ thống xảy ra sự cố theo quy định.
Hai là, doanh nghiệp lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế với các thông tin không đầy đủ, chính xác theo quy định.
Ba là, doanh nghiệp vi phạm các quy định về việc hoàn thuế giá trị gia tăng.
Về thanh toán, hoàn trả số tiền thuế đã ứng trước, tiền phí dịch vụ hoàn thuế giá trị gia tăng, định kỳ tối đa 5 ngày làm việc một lần, ngân hàng thương mại căn cứ tình hình thực tế, lập hồ sơ đề nghị thanh toán, hoàn trả số tiền thuế đã ứng trước, tiền phí dịch vụ hoàn thuế được hưởng trên Hệ thống và gửi Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại đăng ký, khai thuế, Cục Hải quan địa phương nơi Ngân hàng thương mại thực hiện việc hoàn thuế.
Trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị thanh toán của ngân hàng thương mại, căn cứ thông tin xác nhận hoàn thuế do cơ quan hải quan cung cấp theo đường điện tử, Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại đăng ký, khai thuế ban hành Quyết định thanh toán theo mẫu; đồng thời lập Lệnh hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước để thực hiện chuyển tiền cho ngân hàng thương mại. Căn cứ Quyết định thanh toán và Lệnh hoàn trả do Cục Thuế ban hành, Kho bạc Nhà nước chuyển tiền cho ngân hàng thương mại.
Theo Thông tư số 92/2019/TT-BTC, chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo của quý phát sinh nghĩa vụ thuế, doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế báo cáo cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc bán hàng cho người nước ngoài.
Định kỳ hàng tháng, chậm nhất vào ngày 10 của tháng sau, Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bán hàng đăng ký, khai thuế chủ trì phối hợp với Kho bạc Nhà nước đối chiếu số tiền hoàn thuế giá trị gia tăng; phối hợp với Cục Hải quan đồng cấp rà soát, đối chiếu số tiền thuế giá trị gia tăng doanh nghiệp bán hàng đã kê khai hoặc đã nộp, tiền thuế giá trị gia tăng và tiền phí dịch vụ hoàn thuế đã thanh toán cho ngân hàng thương mại để đảm bảo khớp đúng số liệu giữa các bên. Trường hợp số liệu không khớp đúng, các cơ quan phối hợp tìm nguyên nhân và xử lý bảo đảm việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài theo đúng quy định.
Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại đăng ký, khai thuế tổng hợp báo kết quả và tình hình thanh toán, hoàn trả tiền thuế đã ứng trước, tiền phí dịch vụ hoàn thuế cho ngân hàng thương mại; các Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo kết quả, tình hình bán hàng cho người nước ngoài của doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế theo địa bàn quản lý với Tổng cục Thuế theo quy định do Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ban hành.
N.Ánh

Xuất khẩu nông sản thời dịch: Trong nguy có cơTheo đánh giá tình hình của ngành nông nghiệp, các ngành hàng thủy sản, gỗ, rau quả và gạo sẽ bị ảnh hưởng lớn từ các diễn biến phức tạp của dịch viêm phổi cấp từ Trung Quốc. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các ngành hàng chuyển đổi phương thức sản xuất và kinh doanh. Thực tế, các ngành hàng đa phần đã có sự chuẩn bị để thích ứng với biến động mạnh này từ thị trường xuất khẩu truyền thống.


Doanh nghiệp sẵn sàng nắm bắt cơ hội
Ngày 3/2, Bộ NN&PTNT phối hợp đã tổ chức Hội nghị về thúc đẩy thương mại và phát triển sản xuất nông sản trước tác động của dịch bệnh Corona. Trái với dự đoán bi quan về việc nông sản Việt đang bị phụ thuộc quá nhiều vào thị trường lớn của Trung Quốc, đại diện các hiệp hội đều đã nêu cao tinh thần chủ động ứng phó với biến động lớn này.
Đối với ngành lâm sản, ông Nguyễn Tôn Quyền, Nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết: “Do ảnh hưởng của dịch cúm do virus corona, những lô hàng xuất khẩu dăm gỗ sang Trung Quốc ngay lập tức giảm mạnh, nhưng tôi cho rằng, đây là cơ hội cho ngành chế biến, xuất khẩu gỗ bởi xuất khẩu dăm gỗ mang lại giá trị không cao, không phát triển bền vững vốn rừng”.
Ông Quyền phân tích: “Tới đây, khi xuất khẩu dăm gỗ giảm sẽ bổ sung nguồn nguyên liệu gỗ trong nước để sản xuất ván nhân tạo, MDF, tạo ra giá trị gia tăng cao. Trong 2 tuần qua, nhiều doanh nghiệp của ngành gỗ đã chuyển hướng, đã có 3 - 4 doanh nghiệp chuyên làm dăm xuất khẩu mua thiết bị sản xuất gỗ ván ép, gỗ nhiên liệu”.
Ông Quyền cũng nêu kiến nghị nhà nước xem xét tạo điều kiện về lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp bắt đầu chuyển hướng mua thiết bị để sản xuất, chế biến sâu các sản phẩm dăm, viên nén… này để doanh nghiệp sớm hoàn thiện dây truyền sản xuất, bắp kịp cơ hội này.
Còn đối với ngành thủy sản, ông Nguyễn Hoài Nam (Phó tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam) cho biết: Hiện nay, tác động hủy đơn hàng với mặt hàng thủy sản do dịch cúm do virus corona chưa có, nhưng đã có việc chậm đơn hàng, điều chỉnh đơn hàng. Các đối tác hứa ngày 16/2 mới bắt đầu nhận hàng. Khó khăn trước mắt là, một số hãng tàu biển lớn ngưng nhận các container hàng chở đi Trung Quốc. Các khách hàng lớn Nhật Bản đề nghị không đưa hàng qua Trung Quốc.
Những doanh nghiệp có xuất sang Trung Quốc sản lượng lớn, hiện đang tồn kho, chi phí tồn kho lớn. Tại Trung Quốc, nhiều khách hàng bán trực tiếp các nhà hàng, khi các hệ thống nhà hàng ngừng hoặc giảm thì các cửa hàng thực phẩm lớn giảm hoặc ngưng vì không muốn mất chi phí lưu hàng hóa.
“Rủi ro có, nhưng cũng có một số cơ hội. Chúng tôi thấy có 2 cơ hội thúc đẩy tranh thủ sản xuất không tác động nhiều. Trước hết là chuẩn bị hàng đồ hộp, đông lạnh. Những sự kiện như thế này sau 3-5 tháng, sự điều chỉnh văn hóa tiêu dùng rõ rệt, không ăn sống nhiều, hàng tươi sẽ ít đi, nhưng hàng đồ hộp, đông lạnh sẽ có nhu cầu lớn. Cơ hội thứ hai, một số ngành Trung Quốc đang cạnh tranh với chúng ta như cá ngừ, Trung Quốc là 1 trong 5 nước bán cá ngừ lớn, hiện nay các nước không mua cá ngừ Trung Quốc nên giá giảm sâu. Các doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam đang coi đây là cơ hội đối với các nguồn tiêu thụ khác, gia tăng thị phần, giá cả”.
Đối với ngành hàng gạo, bà Bùi Thị Thanh Tâm, Tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Bắc cho biết: “Trước đây 5, 6 năm thì thị trường Trung Quốc là thị trường rất lớn của chúng ta nhưng hiện nay ta đã mở rộng ra nhiều thị trường khác nhau nên giá trị nhập khẩu của thị trường này cũng không còn quá chi phối ngành hàng gạo nữa”.
 Ông Nguyễn Công Trưởng,Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn - Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Thanh long, dưa hấu là “gót chân Asin”
Tuy đa số các ngành hàng cũng khá cập nhật tình hình từ cửa khẩu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Nguyễn Công Trưởng cho biết hiện vẫn có các xe hàng nông sản đổ về các cửa khẩu của Lạng Sơn dù tình hình thông quan chưa khả thi thời điểm này.
Năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Lạng Sơn và các tỉnh Trung Quốc đạt khoảng 4,75tỷ USD, trong đó xuất siêu trên 2 tỷ USD. Tổng số có 186.272 xe xuất khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh Lạng Sơn, một con số rất lớn.
“Riêng tháng 12, lượng xe thông quan qua các cửa khẩu của tỉnh là 12.600 xe, giảm so với cùng kỳ, do nguyên nhân dịch bệnh, kiểm soát xe cộ và truy xuất nguồn gốc. Trước Tết, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn bình thường, đến 28 Tết Canh Tý tại các cửa khẩu của Lạng Sơn đã xuất toàn bộ hàng, không còn xe nào tồn đọng. Tuy nhiên, từ mùng 1 Tết, dịch bệnh bùng phát, Trung Quốc đóng 9 cặp chợ biên giới từ 31/1 đến 8/2, nếu dịch còn tiếp diễn phức tạp sẽ đóng kéo dài nên xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc gặp khó, hiện vẫn còn 333 xe chở nông sản đang chờ thông quan, trong đó có 190 xe thanh long, trọng lượng trên 5.300 tấn”, ông Trưởng cho biết.
Qua rà soát của Bộ NN&PTNT, từ nay đến hết Rằm tháng Giêng âm lịch, tại tỉnh Long An lượng thu hoạch thanh long khoảng 21.600 tấn. Đợt tiếp theo từ ngày 8/2-28/2 thu hoạch khoảng 54.000 tấn. Đầu tháng 3, tại Tiền Giang thu hoạch khoảng 10.000 tấn, Bình Thuận khoảng 100.000 tấn... Hầu hết các sản phẩm trái cây nêu trên là xuất khẩu tươi, chưa qua chế biến.
Tuy các địa phương đã hướng dẫn, chủ động trong điều chỉnh kế hoạch sản xuất nhưng tình trạng ùn tắc, dư cung cục bộ sẽ diễn ra do việc hạn chế giao dịch tại các cặp chợ biên giới trên địa bàn tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, lịch nghỉ Tết Nguyên Đán của Trung Quốc kéo dài và các biện pháp đảm bảo công tác phòng chống dịch viêm phổi cấp được triển khai từ cả hai phía.
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhìn nhận tình hình xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc sẽ có nhiều khó khăn tới do các đoàn đàm phán hai bên sẽ khó tiếp tục lịch trình để mở cửa chính thức cho nhiều loại nông sản. Đối với trước mắt, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhận định: “Hiện nay “gót chân Asin” của xuất khẩu nông sản chính là rau quả, lõi là thanh long, có thế tới đây là dưa hấu. Để ứng phó được cần sự đồng hành, quyết tâm của khu vực nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp, người dân. Các tỉnh, hiệp hội rà soát các ngành hàng. Như ở Long An, nông dân không kích thích ra hoa trái vụ thanh long. Với 150 cơ sở trên địa bàn với hơn 100 cơ sở có kho đông lạnh phải cân đối, tập trung dự trữ trong các kho lạnh, tăng chế biến và đưa ra các giải pháp để tiêu thụ ổn định chừng 30.000 tấn/tháng”.
Cùng với đó, các doanh nghiệp bán lẻ như Hapro, Big C… cần vào cuộc tích cực, khi mặt hàng thanh long dễ tổn thương, chưa đi qua biên giới được thì hết sức chú ý thị trường trong nước. Riêng nhóm dưa hấu, Bộ trưởng chỉ đạo bà con nông dân và các địa phương hạn chế xuống giống, chuyển qua các cây trồng khác như: đậu tương, ngô, rau…
Đỗ Hương
Tăng sức cạnh tranh của hàng hoá qua dịch vụ hải quan. Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, có tới 87,8% các doanh nghiệp ngành logistics cung cấp dịch vụ khai báo hải quan. 

Điều đó cho thấy nghề cung cấp dịch vụ hải quan, cụ thể là đại lý hải quan và bảo lãnh thông quan đang dần trở thành dịch vụ cơ bản của các công ty logistics và là một trong những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị của ngành logistics...
Ông Âu Anh Tuấn, Cục Giám sát quản lý về hải quan - Tổng cục Hải quan chia sẻ, trong nhiều năm qua đại lý làm thủ tục hải quan đã trở thành cánh tay nối dài giúp cơ quan hải quan cũng như doanh nghiệp xuất, nhập khẩu giảm tải áp lực công việc, cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhanh chóng trong thủ tục hải quan. 
Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, hiện nay trên toàn quốc có khoảng 1.000 đại lý thủ tục hải quan được Tổng cục Hải quan công nhận đủ điều kiện hoạt động và có khoảng 1.800 nhân viên đại lý hải quan đã được cấp mã số. 
Tuy nhiên các đại lý thủ tục hải quan đang chủ yếu tập trung tại các khu vực có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, tại các cảng biển, cảng hàng không trọng điểm tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và các khu công nghiệp lớn như Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc...
Một khảo sát gần đây của Tổng cục Hải quan cho thấy, tỉ lệ tờ khai đại lý được ủy quyền nộp thuế thay hoàn toàn cho chủ hàng chỉ chiếm 9,9%, đặc biệt là mức độ tin cậy của đại lý chưa được đánh giá ở mức cao, chỉ chiếm tỉ lệ dưới 10%. Nguyên nhân được báo cáo khảo sát này cho rằng là do nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa tin tưởng nhiều vào đại lý hải quan. 
Lý giải về sự thiếu niềm tin này, đại diện Tổng cục Hải quan cho rằng doanh nghiệp xuất nhập khẩu không muốn làm thủ tục hải quan qua đại lý trung gian do phát sinh chi phí, tốn thêm nhiều thủ tục và rủi ro phát sinh về sau. 
Do đó nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường trực tiếp làm thủ tục hải quan, nếu thuê đại lý thì không ký hợp đồng dịch vụ mà ký giấy giới thiệu cho nhân viên đại lý thành nhân viên của mình để làm thủ tục hải quan... 
Những việc này thường đẩy rủi ro sau thông quan về phía các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hoá. Thực tế là nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa hiểu lợi ích của việc sử dụng dịch vụ đại lý, do đó mặc dù phần lớn doanh nghiệp logistics đều cung cấp dịch vụ này.
"Mục tiêu của ngành hải quan là phát triển đại lý làm thủ tục hải quan như các nước tiên tiến, việc làm thủ tục hải quan 80-90% thông qua đại lý. Do đó, đã có nhiều quy định nới lỏng các thủ tục mở đại lý thủ tục hải quan. Đặc biệt là việc đại lý có thể chịu trách nhiệm toàn bộ lô hàng khi xuất nhập khẩu nếu khai sai mã hàng hoá, giá, thuế... 
Những quy định này sẽ giúp cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu có niềm tin hơn khi kí hợp đồng đại lý làm thủ tục hải quan...", ông Âu Anh Tuấn giải thích. 
Cũng theo ông Tuấn, ở nhiều nước hoạt động đại lý hải quan phát triển mạnh, như tại Nhật Bản 90% số lượng tờ khai hải quan được thực hiện thông qua địa lý hải quan, còn ở Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan số lượng chiếm trên 80%.
Ông Âu Anh Tuấn nhấn mạnh, "để đại lý thủ tục hải quan chuyên nghiệp, thực sự trở thành cánh tay nối dài giúp cơ quan hải quan cũng như doanh nghiệp xuất nhập khẩu giảm áp lực công việc, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 22/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2015/TT-BTC. 
Theo đó, đại lý hải quan đã được hưởng lợi rất nhiều từ cơ chế chính sách như đã đơn giản hóa khi cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan, thủ tục công nhận đại lý hải quan, thủ tục cấp mã số nhân viên hải quan...".
Liên quan đến dịch vụ bảo lãnh thông quan, hiện Tổng cục Hải quan với sự hỗ trợ của Liên minh tạo thuận lợi thương mại toàn cầu (GATF) đang khẩn trương tổ chức đợt làm việc tập trung nhằm hoàn thiện Đề án thí điểm bảo lãnh thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, sớm báo cáo Bộ Tài chính trình Chính phủ, Quốc hội. 
Ông Mai Xuân Thành, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan cho biết, việc áp dụng cơ chế bảo lãnh thông quan sẽ giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu thay vì phải chờ nộp đầy đủ thuế, thực hiện các nghĩa vụ về kiểm tra chuyên ngành thì có thể đưa hàng về để sản xuất, kinh doanh. 
Doanh nghiệp chỉ cần ký hợp đồng với tổ chức bảo hiểm để họ đứng ra bảo đảm với hải quan việc doanh nghiệp sẽ thực hiện tất cả nghĩa vụ với cơ quan nhà nước. Bảo lãnh thông quan trên thực tế đã được áp dụng tại nhiều quốc gia và mang lại những kết quả khả quan. 
Đây không chỉ là công cụ giúp cho cơ quan hải quan nâng cao năng lực quản lý, nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp mà còn giúp cho hàng hóa được thông quan nhanh chóng, giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Trước kia, nếu muốn bảo lãnh thuế thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là được sự bảo lãnh của ngân hàng và đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm. 
Với việc mở rộng đối tượng tham gia bảo lãnh thông quan cho các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu không nhất thiết phải có tài sản đảm bảo cho khoản tiền phải thế chấp. 
Các đơn vị bảo hiểm sẽ phân tích khả năng hoạt động, khả năng chi trả thay vì chỉ nhìn vào số tài sản doanh nghiệp và cơ hội kinh doanh sẽ đến nhiều hơn với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
"Theo kinh nghiệm các nước đã áp dụng thì việc bảo lãnh thông quan sẽ làm giảm chi phí hành chính từ 0,1 - 0,5%, giảm chi phí thông quan từ 0,5 - 0,8% trị giá lô hàng và từ đó sẽ thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu có thể tăng 1%, tạo ra sự cạnh tranh tốt hơn cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trong phạm vi khu vực và thế giới...", ông Mai Xuân Thành nhấn mạnh. 
Như vậy, đại lý thủ tục hải quan và bảo lãnh thông quan đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị logistics mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần hướng đến sử dụng để giảm chi phí logistics, tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hoá của mình.

Xác định giá trị hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo nguyên tắc nào?Đây là nội dung được không ít doanh nghiệp hoạt động xuất, nhập khẩu hành hóa quan tâm. Một số doanh nghiệp lúng túng khi chưa nắm bắt kịp thời về quy định hướng dẫn mới về về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.



Ngày 30/8/2019, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 60/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Theo đó, kể từ ngày 15/10/2019, việc xác định giá trị hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp quy định tại Thông tư số 60/2019/TT-BTC với các nội dung sau:
Nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hàng hóa xuất khẩu, chuyển toàn bộ quy định về nguyên tắc và phương pháp hàng xuất khẩu hiện đang quy định tại khoản 14 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC về Thông tư 60/2019/TT-BTC.
Thông tư quy định chi tiết phương pháp xác định trị giá theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất theo từng điều kiện giao hàng xuất khẩu khác nhau gồm giao hàng tại cửa khẩu xuất, giao hàng trong nội địa Việt Nam và giao hàng tại địa điểm giao hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Đồng thời, Thông tư mới cũng bổ sung nội dung mở rộng khái niệm hàng hóa giống hệt, tương tự tại phương pháp giá bán của hàng hóa xuất khẩu do cơ quan hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại như quy định đối với hàng nhập khẩu để đảm bảo tính thống nhất. Bên cạnh việc bổ sung một số quy định trên, có 05 nội dung sửa đổi quan trọng là:
Một là, quy định về xác định trị giá hải quan của máy móc, thiết bị có chứa phần mềm điều khiển, vận hành nhập khẩu: Sửa đổi quy định chi tiết các tình huống trị giá của phần mềm điều khiển, vận hành phải cộng hoặc không phải cộng vào trị giá giao dịch của máy móc, thiết bị; Thủ tục khai báo cho người khai hải quan và trình tự kiểm tra, xử lý của cơ quan hải quan để đáp ứng tình hình thực tế hiện nay. Đồng thời, quy địnhh mới cũng nêu rõ phần mềm ứng dụng không phải cộng vào trị giá của phương tiện trung gian.
Hai là, quy định về chứng minh mối quan hệ đặc biệt có hay không ảnh hưởng đến giá cả mua bán trong giao dịch mua bán hàng hóa nhập khẩu: Sửa đổi quy định các chứng từ, tài liệu yêu cầu doanh nghiệp xuất trình; Trường hợp cơ quan hải quan bác bỏ hoặc chấp nhận; Trường hợp phải tổ chức đối thoại nhằm tăng cường tính minh bạch, tạo điều kiện cho người khai hải quan và công chức hải quan dễ dàng áp dụng vào thực tế.
Ba là, quy định về phí bản quyền, phí giấy phép: Thông tư mới đã sửa đổi điều kiện “liên quan đến hàng hóa nhập khẩu” và “như một điều kiện mua bán” để phù hợp với các khuyến nghị của WCO. Mặt khác, bổ sung thêm quy định về việc xử lý của cơ quan hải quan đối với trường hợp người khai hải quan khai báo đúng về phí bản quyền để phù hợp với thực tế và đảm bảo đầy đủ các trường hợp; Mô tả chi tiết các giao dịch tại các tình huống về phí bản quyền tại Phụ lục I Thông tư số 39/2015/TT-BTC nhằm đảm bảo dễ hiểu, dễ áp dụng.
Bốn là, quy định về phương pháp suy luận: Việc vận dụng linh hoạt từng phương pháp đúng theo nguyên tắc trình tự để xác định trị giá hải quan; Phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu là một phương pháp được vận dụng và phải được vận dụng đầu tiên; Trường hợp không được sử dụng giá tham chiếu trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá để xác định trị giá hải quan cho hàng hóa, thống nhất với nguyên tắc sử dụng Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá.
Năm là, quy định về xác định trị giá đối với một số trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đặc thù: Việc xác định trị giá hải quan cho các trường hợp hàng hóa nhập khẩu đã được xác định miễn thuế do thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế, nay thay đổi mục đích sử dụng nên phải khai, tính toán và nộp thuế nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu được vận chuyển đến Việt Nam bằng dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh nhưng không có hợp đồng mua bán và hóa đơn thương mại; Hàng hóa đi thuê, mượn nhằm tránh vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Đăng kí tờ khai hải quan một lần là gì? Nội dung cần lưu ý khi đăng kí. Đăng kí tờ khai hải quan một lần (tiếng Anh: Single registration of customs declarations) là việc đăng kí tờ khai và nộp hồ sơ hải quan một lần đối với mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu nhất định.

Đăng kí tờ khai hải quan một lần (Single registration of customs declarations)
Khái niệm
Đăng kí tờ khai hải quan một lần trong tiếng Anh là Single registration of customs declarations.
Đăng kí tờ khai hải quan một lần (Single registration of customs declarations) là việc đăng kí tờ khai và nộp hồ sơ hải quan một lần đối với mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu nhất định, trong một thời gian nhất định của cùng một hợp đồng, qua cùng một cửa khẩu để làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng đó nhiều lần trong một khoảng thời gian giao hàng qui định trong hợp đồng.

Nội dung cần lưu ý khi đăng kí tờ khai hải quan một lần

Điều kiện để đăng kí tờ khai hải quan một lần:
- Người khai hải quan thường xuyên xuất khẩu, nhập khẩu đối với mặt hàng nhất định
- Trong một thời gian nhất định
- Cùng một hợp đồng
- Qua cùng một cửa khẩu
Theo Điều 9 Khoản 6 Nghị định số 154 năm 2005 qui định: "Người khai hải quan thường xuyên xuất khẩu, nhập khẩu đối với mặt hàng nhất định, trong một thời gian nhất định của cùng một hợp đồng mua bán hàng hoá, qua cùng cửa khẩu được đăng kí tờ khai và nộp hồ sơ hải quan một lần để làm thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng đó nhiều lần trong khoảng thời gian giao hàng qui định trong hợp đồng mua bán hàng hoá".
Hiệu lực của tờ khai đăng kí một lần
Tờ khai hải quan sẽ hết hiệu lực khi có sự thay đổi về chính sách thuế và chính sách quản lí xuất nhập khẩu đối với mặt hàng khai trên tờ khai hải quan. Thời hạn thanh khoản tờ khai đăng kí một lần là 15 ngày kể từ ngày xuất/nhập lô hàng cuối cùng hoặc kể từ ngày tờ khai hết hiệu lực.
Hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu trong thời hạn hiệu lực của tờ khai hải quan được áp dụng các chính sách quản lí hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chính sách thuế đối với hàng hóa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu lực tại thời điểm đăng kí tờ khai. (Tài liệu tham khảo: Giáo trình Hải quan cơ bản, NXB Tài chính)
Thời điểm tính thuế
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đăng kí tờ khai hải quan một lần để xuất khẩu, nhập khẩu nhiều lần thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tính theo thuế suất, trị giá tính thuế và tỉ giá tính thuế theo ngày làm thủ tục hải quan có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu.(theo Điều 100 Thông tư 194 năm 2010 Bộ Tài chính)

Hàng miễn thuế (Duty-free) là gì? Qui định đối với hàng miễn thuếHàng miễn thuế (tiếng Anh: Duty-free) là những mặt hàng nhập khẩu để bán tại cửa hàng miễn thuế không thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng và được miễn thuế nhập khẩu nếu là hàng nhập khẩu.
http://www.dichvuhaiquannhanh.com/2019/09/hang-mien-thue-duty-free-la-gi-qui-inh.html

Hàng miễn thuế (Duty-free)
Khái niệm
Hàng miễn thuế trong tiếng Anh là Duty-free.
Hàng miễn thuế là những mặt hàng nhập khẩu để bán tại cửa hàng miễn thuế không thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng và được miễn thuế nhập khẩu nếu là hàng nhập khẩu.
Địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế
1. Tại khu cách li ở cửa khẩu quốc tế sân bay, cảng biển, đường bộ, đường sắt để phục vụ người xuất cảnh, quá cảnh (bao gồm cả người điều khiển và nhân viên phục vụ trên phương tiện vận chuyển xuất cảnh, quá cảnh).
2. Trong nội thành (Downtown Duty Free Shop) để phục vụ người chờ xuất cảnh, đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi về thuế theo qui định của Thủ tướng Chính phủ.
3. Trên tàu bay thực hiện các chuyến bay quốc tế của hãng hàng không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được bán hàng miễn thuế phục vụ hành khách xuất cảnh trên tàu bay, hành khách trên tàu bay đến Việt Nam.
4. Địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế của thương nhân phải có phần mềm máy tính nối mạng với cơ quan Hải quan, bảo đảm việc quản lí bán hàng miễn thuế theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan và phải có văn bản xác nhận đủ điều kiện kiểm tra, kiểm soát của Bộ Tài chính.

Qui định đối với hàng miễn thuế

- Hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam, hàng hóa nhập khẩu được phép lưu thông theo qui định của pháp luật;
- Hàng hóa nhập khẩu chưa nộp thuế đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế được quản lí theo chế độ hàng tạm nhập và được lưu lại tại cửa hàng miễn thuế trong thời hạn không quá 365 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan đối với lô hàng nhập khẩu;
- Hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế được coi là hàng hóa xuất khẩu và quản lí theo chế độ hàng tạm xuất; được lưu lại tại cửa hàng miễn thuế trong thời hạn không quá 365 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan đối với lô hàng xuất khẩu;
- Trường hợp cần kéo dài thời hạn tạm nhập, tạm xuất hàng hóa lưu tại cửa hàng miễn thuế nêu trên, thương nhân có văn bản gửi cơ quan Hải quan đề nghị gia hạn, thời hạn gia hạn một lần không quá 180 ngày cho mỗi lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu;
Hàng miễn thuế nếu được đưa vào bán ở thị trường nội địa thì thương nhân phải thực hiện theo qui định của pháp luật như đối với hàng hóa nhập khẩu thương mại;
- Hàng hóa bị đổ vỡ, hư hỏng, mất phẩm chất, kém chất lượng không được bán phục vụ tiêu dùng; thương nhân lập biên bản về tình trạng hàng hóa có xác nhận của cơ quan Hải quan và tổ chức hủy bỏ theo qui định về hủy bỏ phế liệu dưới sự giám sát của cơ quan Hải quan và báo cáo Tổng cục Hải quan kết quả hủy bỏ hàng hóa.
(Tài liệu tham khảo: Quyết định 24/2009/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm các văn bản sửa đổi bổ sung)

Phát biểu trước 250 doanh nghiệp Hàn Quốc chiều 24/9/2019, ông Nguyễn Thế Mạnh - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết, cơ quan thuế, hải quan sẵn sàng lắng nghe để tiếp tục hoàn thiện thể chế, góp phần thúc đẩy môi trường đầu tư lành mạnh, bền vững tại Việt Nam.

Hàn Quốc là đối tác đầu tư trực tiếp lớn nhất của Việt Nam
Như TBTCVN đã thông tin, Hội nghị đối thoại về chính sách, thủ tục hành chính thuế, hải quan với doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2019 do Bộ Tài chính tổ chức đã diễn ra chiều 24/9, tại Hà Nội. Phát biểu trước 250 doanh nghiệp Hàn Quốc, thừa ủy quyền lãnh đạo Bộ Tài chính, ông Nguyễn Thế Mạnh - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết, sau 27 năm thiết lập quan hệ giữa Việt Nam - Hàn Quốc, mối quan hệ hai nước đã có những bước phát triển mạnh mẽ, hiệu quả, đặc biệt phát triển vượt bậc về kinh tế .
Có được thành tựu đó, không thể không kể đến vai trò to lớn của cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có sự đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam.
“Hiện nay Hàn Quốc đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu và là đối tác đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Việt Nam, doanh nghiệp FDI Hàn Quốc là thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp khoảng trên 30% giá trị xuất khẩu của Việt Nam, sử dụng trên 80 vạn lao động. Chúng tôi ghi nhận và đánh giá cao ý thức tuân thủ, nỗ lực, quyết tâm của các nhà đầu tư Hàn Quốc khi ngày càng trở nên gắn bó và đồng hành với sự phát triển kinh tế Việt Nam” - ông Mạnh nói.
hội nghị đối thoại dn hàn quốc 
Đại diện Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và Đại sứ quán Hàn Quốc, đại diện cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: NM.
Đề cập đến kết quả trong công tác cải cách thể chế, cũng như thủ tục hành chính thuế, hải quan, đại diện Tổng cục Thuế cho biết, thực hiện các nghị quyết, giải pháp của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia từ năm 2016 đến nay, Chính phủ Việt Nam luôn chú trọng cải cách thủ tục hành chính, trong đó đặc biệt quan tâm thủ tục về thuế và hải quan.
Triển khai các nhiệm vụ này, Bộ Tài chính đã và đang tiếp tục cải cách mạnh mẽ trên nhiều mặt như xây dựng, hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính; hiện đại hóa hệ thống thuế, hải quan, triển khai đồng bộ, có hiệu quả các cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư sản xuất kinh doanh, thụ hưởng đầy đủ các chính sách ưu đãi về thuế, hải quan; tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN.
“Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan đã rà soát, xây dựng các chương trình hành động cụ thể giảm bớt thủ tục hành chính, giảm thời gian nộp thuế, thời gian khai và thông quan; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý của ngành Thuế và Hải quan. Với những nỗ lực đó, việc tuân thủ pháp luật thuế, hải quan đã liên tục được cải thiện” - ông Mạnh nói.
Dẫn chứng về kết quả trên, đại diện Tổng cục Thuế cho biết, ngành Thuế đã triển khai đồng bộ, có hiệu quả các công tác để thực hiện Luật Quản lý thuế đã được Quốc hội thông qua tháng 6/2019 (có hiệu lực tháng 7/2020), thực hiện kê khai thuế qua mạng đạt gần 100% số doanh nghiệp thuộc diện quản lý thuế, thực hiện triển khai khai thuế điện tử (E-Tax) tại tất cả các giai đoạn, từ đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế điện tử, hóa đơn điện tử, nộp thuế, phí liên quan đất đai, hộ cá nhân...
Đối với lĩnh vực hải quan, đã rà soát, cắt giảm đơn giản hóa đối với hầu hết các thủ tục hải quan; triển khai hệ thống hải quan điện tử tại 100% đơn vị hải quan trên toàn quốc... giúp điện tử hóa các khâu thủ tục; giảm bớt thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa.
hội nghị đối thoại dn hàn quốc 
Tham dự hội nghị có đông đảo các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và 250 doanh nghiệp Hàn Quốc. Ảnh: NM.
Tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc
Với mục tiêu cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính, tạo điều kiện tốt nhất cho cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Hàn Quốc, các chính sách, thủ tục hành chính về thuế, hải quan đòi hỏi liên tục hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu cải cách, tiền đề đặt ra.
“Bộ Tài chính sẵn sàng lắng nghe, tiếp nhận các thông tin về tình hình thực hiện các chính sách, kịp thời giải đáp những vướng mắc, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thủ tục hành chính theo thẩm quyền. Đồng thời tiếp nhận ý kiến, kiến nghị và đề xuất để xây dựng hoàn thiện chính sách pháp luật về thuế, hải quan để hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển bền vững, thúc đẩy môi trường đầu tư lành mạnh, bền vững tại Việt Nam” - ông Mạnh nói.
Lãnh đạo Tổng cục Thuế mong muốn, với tinh thần cởi mở, thẳng thắn, cầu thị, trách nhiệm, làm cho chính sách thuế, hải quan, các thủ tục hành chính ngày càng tiệm cận gần, sát hơn với cuộc sống, các doanh nghiệp tham dự hội nghị sẽ chủ động đưa ra những vướng mắc, đề xuất, kiến nghị để cơ quan chức năng sớm tháo gỡ kịp thời.
Phát biểu tại hội nghị, ông Jeong Woo Jin - đại diện Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam cho biết, chính sách thuế, hải quan luôn là yếu tố rất quan trọng để các doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư kinh doanh vào một quốc gia.
“Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng, doanh nghiệp Hàn Quốc mong muốn tiếp tục hợp tác đầu tư vào Việt Nam. Chính vì thế, Hội nghị đối thoại về chính sách, thủ tục hành chính thuế, hải quan với doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2019 có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc” - ông Jeong Woo Jin nói.

Trả lời nhiều câu hỏi của các doanh nghiệp Hàn Quốc về chính sách thuế, hải quan
Tại hội nghị, đại diện Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan đã chia sẻ những điểm mới về chính sách thuế, hải quan có liên quan trực tiếp đến các doanh nghiệp FDI, đồng thời lắng nghe những vướng mắc đến từ các doanh nghiệp. Lãnh đạo Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan cũng đã trả lời nhiều câu hỏi của các doanh nghiệp liên quan đến hóa đơn điện tử, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp; các vấn đề liên quan đến thuế xuất nhập khẩu…
Theo đánh giá của đại diện một số doanh nghiệp tham dự hội nghị, những vướng mắc đã được đại diện Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan trả lời cụ thể, ngắn ngọn, dễ hiểu. Doanh nghiệp sẽ thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật liên quan đến nghĩa vụ thuế, hải quan.
Nhật Minh

LIEN ANH CORP

Vận tải đường biển

Vận tải hàng không

Dịch vụ khai hải quan

Gửi hàng nhanh

Dịch vụ ủy thác XNK

Vận tải nội địa

Tư vấn xuất nhập khẩu

Cơ hội giao thương

Cơ hội giao thương

Tuyển dụng

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

HOTLINE / ZALO
0932 706 990

TƯ VẤN
0903 687 383

Email
info@lienanhcorp.com

BÀI VIẾT XEM NHIỀU

FACEBOOK LIEN ANH

THUÊ XE PHÚ KHANG