5 nội dung mới về khai hải quan. Kể từ ngày 05/6/2018, việc thực hiện hồ sơ hải quan và khai báo hải quan sẽ tuân thủ theo quy định mới Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 và Thông tư số 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính. Các quy định và hướng dẫn mới sẽ giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập liên quan đến thủ tục cho hoạt động xuất nhập khẩu...

Đổi mới về hồ sơ hải quan
Ngày 20/4/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.
Để hướng dẫn Nghị định số 59/2018/NĐ-CP, đồng thời giải quyết những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai Thông tư số 38/2015/TT-BTC, ngày 20/4/2018, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư  số 39/2018/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, có hiệu lực thi hành vào ngày 5/6/2018.
Thông tư số 39/2018/NĐ-CP có nhiều nội dung mới được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu áp dụng các biện pháp tạo thuận lợi thương mại; Đồng thời, phù hợp với sự thay đổi của tập quán thương mại quốc tế đồng thời đáp ứng các yêu cầu quản lý hải quan cũng như xử lý các vướng mắc, bất cập, cụ thể như:
Một là, phương thức nộp hồ sơ hải quan điện tử sẽ trở thành phương thức nộp hồ sơ hải quan chủ yếu. Hồ sơ hải quan sẽ được người khai hải quan nộp dưới dạng điện tử (bản scan có gắn chữ ký số) ngay khi thực hiện đăng ký tờ khai hải quan.
Như vậy, người khai hải quan không cần phải chuẩn bị bộ hồ sơ hải quan dưới dạng giấy và mang đến cơ quan hải quan để nộp như hiện tại.
Hai là, phân biệt cụ thể hồ sơ hải quan người khai hải quan cần nộp cho cơ quan hải quan khi làm thủ tục hải quan với hồ sơ hải quan người khai hải quan cần phải lưu giữ tại trụ sở của người khai hải quan để xuất trình khi cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra, thanh tra.
Theo đó, hồ sơ hải quan nộp khi làm thủ tục hải quan sẽ chỉ bao gồm tối thiểu các chứng từ cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý hải quan chứ không phải tất cả các chứng từ có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu.
Quy định mới này vừa đảm bảo tính minh bạch vừa giảm thiểu chi phí và nhân lực cho cả doanh nghiệp và cơ quan hải quan trong khâu chuẩn bị hồ sơ hải quan và kiểm tra hồ sơ hải quan.
5 nội dung mới về khai hải quan
Để đảm bảo tính thống nhất trong khai báo và điện tử hóa hơn nữa việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử ngoài các nguyên tắc khai hải quan đã quy định tại Điều 19 Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 39/2018/TT-BTC bổ sung một số nguyên tắc như:
Thứ nhất, một vận đơn phải được khai trên một tờ khai hải quan nhập khẩu. Trường hợp một vận đơn khai báo cho nhiều tờ khai hải quan, người khai hải quan thông báo tách vận đơn với cơ quan hải quan trước khi đăng ký tờ khai hải quan. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu không có vận đơn người khai hải quan thực hiện lấy số quản lý hàng hóa thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan trước khi khai hải quan.
 Thứ hai, hàng hóa thuộc nhiều tờ khai hải quan xuất khẩu của cùng một chủ hàng đóng chung container hoặc chung phương tiện chứa hàng thì người khai hải quan phải thông báo thông tin hàng hóa đóng chung container, chung phương tiện chứa hàng hông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan trước khi thực hiện các thủ tục đưa hàng qua khu vực giám sát hải quan.
Thứ ba, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện phải có giấy phép của cơ quan quản lý chuyên ngành thì phải có giấy phép tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan và phải khai đầy đủ thông tin giấy phép trên tờ khai hải quan.
Thứ tư, trường hợp hàng hóa gửi nhầm, gửi thừa so với hợp đồng mua bán hàng hóa, người khai hải quan thực hiện khai bổ sung hoặc từ chối nhận hàng theo quy định.
Thứ năm, trường hợp hệ thống khai hải quan điện tử của người khai hải quan không thực hiện được thủ tục hải quan điện tử, nếu người khai hải quan muốn tiếp tục thực hiện thủ tục hải quan, người khai hải quan có văn bản thông báo cho Chi cục Hải quan nơi dự kiến làm thủ tục hải quan và phương thức khai hải quan trong thời gian khắc phục sự cố.

Một số chính sách mới về xuất nhập khẩu có hiệu lực từ tháng 02/2019Quy định về việc nhập khẩu hàng hóa phục vụ hoạt động in, đúc tiền; Hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu năm 2019; Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lĩnh vực vàng, lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm… là những chính sách mới trong lĩnh vực xuất nhập khẩu có hiệu lực từ tháng 02/2019.


Nhập khẩu hàng hóa phục vụ hoạt động in, đúc tiền
Ngày 25/12/2018, Ngân hàng Nhà nước đã có Thông tư số 38/2018/TT-NHNN quy định về việc nhập khẩu hàng hoá phục vụ hoạt động in, đúc tiền.
Theo đó, danh mục hàng hóa chỉ định cơ sở in, đúc tiền nhập khẩu phục vụ hoạt động in, đúc tiền của Ngân hàng Nhà nước bao gồm:
- Phôi kim loại sử dụng để đúc, dập tiền kim loại.
- Giấy in tiền.
- Mực in tiền.
- Máy ép foil chống giả;
- Foil chống giả để sử dụng cho tiền, ngân phiếu thanh toán và các loại ấn chỉ, giấy tờ có giá khác thuộc ngành Ngân hàng phát hành và quản lý.
-Máy in tiền.
- Máy đúc, dập tiền kim loại.
Khi làm thủ tục nhập khẩu, cơ sở in, đúc tiền gửi Cơ quan hải quan 01 bản chính văn bản xác nhận của Ngân hàng Nhà nước kèm hồ sơ nhập khẩu theo quy định của cơ quan hải quan.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/02/2019.

Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lĩnh vực vàng 

Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu kèm theo mã HS thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực vàng cũng vừa được Ngân hàng Nhà nước ban hành tại Thông tư số 47/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2019.
Theo đó, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước là vàng nguyên liệu, được mô tả là vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng và các loại vàng khác, ngoại trừ vàng dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm, có mã số HS là 7108.12.10 hoặc 7108.12.90.

Hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu năm 2019

Ngày 26/12/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 55/2018/TT-BCT quy định về việc nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo hạn ngạch thuế quan năm 2019.
Theo đó, lượng thuốc lá nguyên liệu (có mã HS là 2401) nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2019 là 56.284 tấn (tăng 2.68 tấn so với năm 2018).
Thương nhân có giấy phép sản xuất thuốc lá điếu, có nhu cầu sử dụng thuốc lá nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất thuốc lá điếu được xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo hạn ngạch thuế quan.
Bộ Công Thương có trách nhiệm xác định thời điểm phân giao hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu cho các thương nhân có nhu cầu.
Ngoài ra, căn cứ lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu năm 2019 và đăng ký của thương nhân để Bộ Công Thương xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu theo hạn ngạch thuế quan cho thương nhân.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/2/2019 đến hết ngày 31/12/2019.

Hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm

Ngày 28/12/2018, Bộ Thông tin và Truyền thông ( Bộ TTTT) đã ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BTTTT quy định cụ thể Danh mục hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2019.
Theo đó, hàng hóa khi nhập khẩu theo danh mục dưới đây phải có giấy phép của Bộ TTTT (chỉ áp dụng đối với hàng hóa có mã số HS 08 số):
Trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa trong Danh mục thực hiện theo quy định tại Điều 27, Điều 28 Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủHàng hóa trong lĩnh vực in có mã số HS thuộc các nhóm: 84.40, 84.41, 84.42 và hàng hóa của nhóm 84.43 quy định tại Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ Tài chính nhưng không được liệt kê trong Danh mục trên khi nhập khu không phải có giấy phép nhập khẩu của BộTTTT.
Thông tư cũng quy định hàng hóa trong Danh mục trên khi xuất khẩu không phải có giấy phép giấy phép xuất khẩu của Bộ TTTT.
Đối với lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm, Thông tư cũng quy định cụ thể danh mục hàng hóa theo mã số HS và hình thức quản lý. Bạn đọc có thể tham khảo chi tiết tại Thông tư số 22/2018/TT-BTTTT trên Cổng Thông tin điện tử hải quan.


Máy vi tính, sản phẩm điện từ và linh kiện là ngành hàng mà Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong tháng 2/2019, ước đạt 3,34 tỷ USD.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 2/2019, có tới 48/53 nhóm hàng nhập khẩu chính giảm so với tháng 1. Nguyên nhân được cho là do tháng 2 có dịp nghỉ lễ Tết Nguyên đán nên nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng giảm. Trong đó, giảm mạnh là các nhóm như máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; vải các loại; điện thoại các loại và linh kiện…
Như vậy, tính đến hết tháng 2/2019, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 36,18 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. 
5 nhóm hàng mà Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong tháng 2 và hai tháng đầu năm 2019 là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc thiết bị; dệt may; điện thoại và chất dẻo.
Cụ thể, đối với máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, Việt Nam đã nhập khẩu 3,34 tỷ USD mặt hàng này trong tháng 2, giảm 15,2% so với tháng trước đó, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm này trong hai tháng đầu năm 2019 đạt 7,3 tỷ USD tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước.
Các thị trường cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong hai tháng qua chủ yếu là Hàn Quốc với kim ngạch 2,9 tỷ USD, giảm 1,3% so với năm trước; Trung Quốc với 1,55 tỷ USD, tăng 47,7% và Đài Loan với 746 triệu USD, tăng 29,9%...
Mặt hàng nhập khẩu nhiều thứ hai là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng với giá trị nhập khẩu trong tháng 2/2019 đạt 2,09 tỷ USD, giảm 38,7% so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm nay đạt 5,52 tỷ USD tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2018.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu mặt hàng này từ Trung Quốc với 2,02 tỷ USD, tăng 18,5%; từ Hàn Quốc đạt 1,01 tỷ USD, tăng 8,1% và từ Nhật Bản đạt 720 triệu USD, tăng 7,9%... so với cùng kỳ năm 2018.
Xếp thứ ba là nhóm mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, da, giày (bao gồm: bông, xơ sợi dệt, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy). Việt Nam đã nhập khẩu 1,25 tỷ USD mặt hàng này trong tháng 2/2019, giảm 40,8% so với tháng trước, qua đó đưa trị giá nhập khẩu trong 2 tháng đầu năm đạt 3,36 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.
Trong hai tháng qua, doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 1,49 tỷ USD, tăng 3,8%; xuất xứ từ Hàn Quốc với 442 triệu USD, giảm 3,2%; xuất xứ Đài Loan với 336 triệu USD, tăng 3,4%; xuất xứ từ Hoa Kỳ với 298 triệu USD, tăng 19,4%  so với cùng kỳ năm 2018.
Điện thoại các loại và linh kiện là ngành hàng nhập khẩu nhiều thứ tư. Ước tính, nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 665 triệu USD, giảm 42,5% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 2/2019 trị giá nhập khẩu nhóm hàng này đạt gần 1,83 tỷ USD giảm 22,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Hàn Quốc và Trung Quốc là 2 thị trường chính cung cấp điện thoại các loại và linh kiện trong hai tháng qua cho Việt Nam với trị giá chiếm 95,1% trị giá nhập khẩu của mặt hàng này của cả nước. Tong đó, nhập khẩu từ Trung Quốc là 931 triệu USD, giảm 34,4% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Hàn Quốc là 805 triệu USD, tăng 0,5%…
Đứng thứ năm là nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo. Trong tháng 2/2019, nhập khẩu hai nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo đạt 914 triệu USD, giảm 32,1% so với tháng trước. Qua đó, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này trong 2 tháng đạt 2,29 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2018.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ các quốc gia: Hàn Quốc đạt 579 triệu USD tăng 7,8%; Trung Quốc đạt 475 triệu USD tăng 4,6%; Đài Loan đạt 215 triệu USD tăng 4,1%... so với cùng kỳ năm 2018.
Xúc tiến thương mại 2019 sẽ hướng tới những thị trường nào? Việt Nam cần đẩy mạnh việc tiếp cận, khai phá các thị trường mới, xa hơn như khu vực Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh…
Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, các chuyên gia cho rằng, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả thương mại với các thị trường lân cận, các đối tác đã có Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam cần đẩy mạnh việc tiếp cận, khai phá các thị trường mới, xa hơn như khu vực Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh…
Tận dụng hiệu quả các thị trường truyền thống
Ông Phạm Thiết Hòa, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC) cho biết, với thị trường 660 triệu dân, ASEAN dự kiến trở thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới vào năm 2030, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và sắp tới khi hoàn thành Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực – RCEP hứa hẹn sẽ mở ra rất nhiều cơ hội xuất khẩu cho doanh nghiệp Việt Nam.

Xúc tiến hàng hóa tại thị trường nước ngoài. Ảnh: Minh họa


Có thể thấy về mặt địa lý, Việt Nam nằm ở trung tâm của khu vực, hệ thống giao thông xuyên quốc gia giữa các thành viên ngày càng được cải thiện, thuận lợi trong vận chuyển giao thương hàng hoá. Đây cũng là khu vực có môi trường chính trị cơ bản ổn định và cùng chung chính sách mở cửa về thương mại, đầu tư, dịch vụ.
Do đó, để hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác thị trường ASEAN hiệu quả, trong năm 2019, ITPC sẽ phối hợp tổ chức và hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu tham gia các sự kiện xúc tiến thương mại trong khu vực như Hội chợ Thương mại Việt –Lào, Hội chợ Thương mại Việt Nam – Campuchia, Tuần lễ Triển lãm sản phẩm Việt Nam tại Thái Lan, kết nối giao thương với nhà phân phối tại Malaysia, Hội chợ hàng Việt Nam tại Myanmar…
Ông Phạm Thiết Hòa cho rằng, muốn khai thác tốt thị trường ASEAN, các doanh nghiệp cần tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, các chương trình khảo sát thị trường đồng thời tăng cường kết nối với các doanh nghiệp tại các thị trường mục tiêu.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần có kỹ năng tiếp cận thị trường thông qua việc thiết kế bao bì nhãn mác phù hợp với từng thị trường cụ thể; tạo tính tiện lợi cho sản phẩm và quan trọng là phải nâng cao được giá trị gia tăng cho sản phẩm.
xúc tiến thị trường
Ngoài ASEAN, năm 2019, ITPC cũng đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp nhằm khai thác hiệu quả thị trường Trung Quốc.
Ông Lý Kiến Lương, đại diện Lãnh sự quán Trung Quốc tại TPHCM cho biết, Trung Quốc có thị trường tiêu thụ lên tới 1,4 tỷ người, nhu cầu về hàng hóa, đặc biệt là nông sản, thực phẩm rất lớn. Đây là cơ hội tốt cho Việt Nam, một quốc gia có thế mạnh về sản xuất và xuất khẩu nông sản và cũng là đối tác thương mại truyền thống của Trung Quốc.
Theo ông Lý Kiến Lương, để nâng cao giá trị cho hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc, hai bên cần tăng cường kết nối doanh nghiệp trực tiếp, cắt giảm các khâu trung gian. Thêm vào đó, thị trường Trung Quốc hiện nay không còn “dễ tính” như trước mà đòi hỏi các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng cao, vì vậy doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng, thay đổi tư duy từ bán thứ mình có sang bán thứ người tiêu dùng cần.
“Khai phá” những thị trường mới
Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt, các chuyên gia cho rằng, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả thương mại với các thị trường lân cận, các đối tác đã có Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam cần đẩy mạnh việc tiếp cận, khai phá các thị trường mới, xa hơn như khu vực Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh… nhằm đa dạng hóa thị trường và nâng cao kim ngạch xuất khẩu.
Bà Võ Hồng Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu – châu Mỹ (Bộ Công Thương) cho rằng, Mỹ Latinh là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động và là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau châu Á. Những năm gần đây thị trường Mỹ Latinh đang dần trở thành đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam với mức tăng trưởng khoảng 20%/năm. Brazil, Argentina, Mexico và Chile là những đối tác thương mại có kim ngạch song phương đạt trên 1 tỷ USD.
Theo bà Võ Hồng Anh, ưu điểm của thị trường Mỹ Latinh là quy mô lớn với hơn 650 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người cao ở mức từ 15.000 -16.000 USD/người/năm. Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng của khu vực này khá lớn; trong đó, nhiều mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế như gạo, giày dép, dệt may, thủy sản, đồ gỗ, máy tính,…
Một khu vực khác được các chuyên gia đánh giá là có nhiều tiềm năng cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đó là Trung Đông và châu Phi.
Bà Phạm Hoài Linh, Vụ Thị trường châu Á – châu Phi (Bộ Công Thương) cho biết, Trung Đông là thị trường có sức mua lớn, khả năng thanh toán cao do có nguồn tài chính dồi dào. Nhu cầu tiêu dùng của các nước Trung Đông chủ yếu phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu; trong đó có nhiều mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh. Trong khi đó, châu Phi là khu vực có nhu cầu nhập khẩu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng rất lớn. Thị trường châu Phi cũng không yêu cầu chất lượng hàng hóa quá cao.
Để khai thác được các thị trường này, bà Phạm Hoài Linh cho rằng, doanh nghiệp cần tích cực tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại như khảo sát thị trường, tham dự các hội chợ, triển lãm chuyên ngành để nắm bắt nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường phù hợp, sản xuất sản phẩm có chất lượng, quy cách, mẫu mã phù hợp với quy định và tập quán tiêu dùng.
Cùng với việc tiếp cận các thị trường theo khu vực địa lý, các doanh nghiệp Việt Nam cũng được khuyến khích khai phá thị trường theo nhóm đối tượng người tiêu dùng, đặc biệt là thị trường các nước Hồi giáo.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng, đại diện văn phòng chứng nhận Halal -HCA Việt Nam cho biết, số lượng người Hồi giáo trên toàn thế giới lên tới 1,6 tỷ người, tập trung nhiều ở khu vực Trung Đông và một số nước ASEAN. Đây là nhóm đối tượng sử dụng các sản phẩm Halal (được phép dùng), ngành công nghiệp Halal đang phát triển rất nhanh, có doanh thu lên tới 2.300 tỷ USD/năm và thu hút không chỉ các nước Hồi giáo mà cả các nước không có người Hồi giáo tham gia.
Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng, Việt Nam có nhiều nhóm sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn Halal của các nước Hồi giáo như nông sản, thủy sản, nhưng hiện nay chưa có nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, phát triển các sản phẩm đạt tiêu chuẩn Halal, phục vụ nhu cầu của cộng đồng người Hồi giáo.
Thị trường các nước Hồi giáo có ít rào cản về mặt kỹ thuật và mức thuế nhập khẩu cũng rất thấp. Hiện nay, nhiều quốc gia Hồi giáo cũng có động thái kết nối và tìm kiếm hàng hóa, thực phẩm của Việt Nam. Đó là cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc mở rộng thị trường và nâng cao kim ngạch xuất khẩu.
Cải thiện môi trường kinh doanh: Trên nóng, dưới cũng phải nóng. Cắt giảm điều kiện kinh doanh và cải cách thủ tục quản lý chuyên ngành tiếp tục là 2 mục tiêu trọng tâm trong cải thiện môi trường kinh doanh năm 2019 của Chính phủ.  

Ðánh giá về tình hình thực hiện cắt giảm điều kiện kinh doanh năm 2018, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (CIEM) cho rằng, tuy có bước tiến triển, song chưa có sự đồng bộ giữa các bộ, ngành, chưa đáp ứng kỳ vọng về tính hiệu quả.
“Từ tháng 11/2018 trở lại đây, hầu như không có nghị định nào về cắt giảm điều kiện kinh doanh được ban hành. Có vẻ như các bộ đã hoàn thành chỉ tiêu thì không còn áp lực nữa. Một số nghị định vẫn chưa được ban hành thuộc Bộ Tài chính và Bộ Giao thông Vận tải, chúng tôi chờ đợi từ tháng 6/2018 có dự thảo, tháng 9 thấy có trình dự thảo, nhưng đến giờ vẫn chưa được ban hành”, bà Thảo nhận xét thẳng thắn và cho rằng, cần xây dựng cả đề án tổng thể cắt giảm danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện với 243 ngành nghề, thay vì các bộ ngành tiến hành riêng lẻ rồi trình lên Chính phủ như hiện nay.
Ðại diện CIEM cũng dẫn ra kết quả khảo sát không lấy làm tích cực của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI). Theo đó, có tới 57% doanh nghiệp đánh giá thủ tục xuất nhập khẩu không cải thiện, trong khi cắt giảm điều kiện kinh doanh tại một số lĩnh vực chưa thực chất khiến doanh nghiệp vẫn chưa được thụ hưởng thành quả từ cải cách.
“Mới đây, một số doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình phàn nàn với chúng tôi rằng họ phải trải qua thủ tục cấp phép hoạt động nhiều khâu nhiều cửa. Dù có vốn có tiền, nhưng không thể nào đáp ứng điều kiện kinh doanh về phát thanh truyền hình. Họ nói rằng sẽ chờ đợi thêm một thời gian nữa, nếu vẫn không được họ sẽ chuyển sang đăng ký hoạt động tại Singapore”, bà Thảo chia sẻ phản hồi của doanh nghiệp.
Liên quan đến cắt giảm thủ tục kiểm tra chuyên ngành, theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, năm 2018, trong khi chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 13 bậc (từ thứ 82 lên thứ 69/190 nền kinh tế) thì chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới (chỉ số về thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá) lại giảm 7 bậc (từ thứ 93 xuống thứ 100/190 nền kinh tế).
“Ngoài việc cải thiện thủ tục xuất nhập khẩu chưa mạnh mẽ bằng các nước, nguyên nhân chính là do thủ tục thông quan đối với loại hàng hoá thuộc diện phải quản lý kiểm tra chuyên ngành vẫn còn rườm rà, phức tạp, nhiều thủ tục, giấy tờ gây tốn kém về thời gian, chi phí cho doanh nghiệp”, ông Phạm Thanh Bình, chuyên gia tư vấn về hải quan, nguyên Cục trưởng Cục Giám sát quản lý, Tổng cục Hải quan nhận xét.
Thống kê của chuyên gia này cho thấy, trong số 33 văn bản yêu cầu phải sửa đổi bị nêu đích danh tại các nghị quyết 19 của Chính phủ, đến nay vẫn còn tới 13 văn bản chưa sửa đổi, chiếm tới 39,4%.
Thậm chí, trong số này, có nhiều văn bản vẫn được xây dựng trong tình trạng cơ quan chủ trì không tuân thủ chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 19, dẫn đến có những quy định trái hoặc không phù hợp với Nghị quyết, vừa ban hành đã bị Thủ tướng yêu cầu sửa đổi.
Ông Lê Tiến Trường, Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) - doanh nghiệp nằm trong nhóm ngành thường xuyên phải đối diện với những khó khăn, bất cập trong các thủ tục kiểm tra chuyên ngành - cho biết, thời gian thực hiện các thủ tục chứng từ để tuân thủ các biện pháp phi thuế quan của Việt Nam vẫn cao hơn gấp đôi so với mức bình quân của ASEAN.
Các chi phí bỏ ra tương đương mức doanh nghiệp phải nộp là 24,5%, cũng cao gần gấp đôi so với 12,5% của ASEAN; số biện pháp lên tới 402 biện pháp, thậm chí còn cao hơn năm 2003.
“Năm 2019, ngành dệt may đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vượt năm 2018 - vốn đã tăng 16,6% cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Trong khi thị trường năm nay được dự báo là khó khăn và nhiều thách thức hơn nên để đạt được mục tiêu này, rất cần có sự hỗ trợ thuận lợi hóa hoạt động xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp”, ông Trường nhấn mạnh.
Ðại diện Vinatex kiến nghị, cần tiếp tục cắt giảm mạnh các thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, đặc biệt là các thủ tục kiểm tra chuyên ngành cũng như các thủ tục tuân thủ chứng từ các biện pháp phi quan thuế để giảm mạnh thời gian và chi phí, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp.          
Hiếu Minh
56% doanh nghiệp gặp khó khi tìm hiểu về thủ tục xuất nhập khẩu. Kết quả trên được công bố sau khi đã tiến hành khảo sát hơn 3.000 doanh nghiệp xuất, nhập khẩu trên cả nước.

Sáng 8/1, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức hội thảo công bố Báo cáo mức độ hài lòng của doanh nghiệp về việc thực hiện thủ tục hành chính xuất nhập khẩu năm 2018, sau khi đã tiến hành khảo sát hơn 3.000 doanh nghiệp xuất, nhập khẩu trên cả nước ở tất cả các thành phần kinh tế như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), doanh nghiệp dân doanh... 



Có 56% doanh nghiệp gặp vướng mắc khi tìm hiểu thông tin về thủ tục hành chính xuất nhập khẩu. Ảnh: Thạch Huê/BNEWS/TTXVN
Kết quả khảo sát cho thấy, còn có 56% doanh nghiệp gặp vướng mắc khi tìm hiểu thông tin về thủ tục hành chính xuất nhập khẩu; 53% doanh nghiệp gặp khó khăn trong các thủ tục kiểm tra và xác định mã số HS; 30% doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục kiểm tra, xác định giá trị hải quan và có đến 38% doanh nghiệp từng thực hiện thủ tục quản lý và kiểm tra chuyên ngành trong năm vừa qua... 

Báo cáo cũng tổng hợp có tới 70% doanh nghiệp kiến nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, 53% doanh nghiệp kiến nghị các cơ quan chức năng cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin; 48% kiến nghị về việc tăng cường quan hệ đối tác giữa doanh nghiệp và hải quan; 43% doanh nghiệp mong muốn tăng tính công khai minh bạch cũng như kỷ cương, chuyên môn của cán bộ công chức.
Còn khoảng 30% doanh nghiệp kiến nghị cải thiện hệ thống cơ sở vật chất đối với ngành hải quan. 

Đại diện VCCI, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế, cho biết, trong bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển và yêu cầu đòi hỏi phải cải cách thủ tục hải quan và kiểm tra chuyên ngành theo tinh thần của Nghị quyết 19 do Chính phủ ban hành về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, VCCI và Bộ Tài chính đã cùng phối hợp triển khai khảo sát doanh nghiệp trên cơ sở hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). 

Mục đích là nhằm kiến nghị tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để sửa đổi các quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi, góp phần tạo thuận lợi thương mại cho cộng đồng doanh nghiệp.
Nội dung khảo sát tập trung vào các tiêu chí như tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành chính hải quan, sự phục vụ của công chức hải quan, thủ tục quản lý và kiểm tra chuyên ngành, thực hiện thủ tục trên Cổng thông tin một cửa quốc gia và chi phí ngoài quy định. 

Ông Hoàng Việt Cường, Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Hải quan cho biết, thời gian qua, ngành hải quan đã và đang nỗ lực thực hiện công cuộc cải cách trên tất cả các lĩnh vực, được Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao với tinh thần kết nối, chia sẻ, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tăng cường quan hệ đối tác hải quan - doanh nghiệp, đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại xuất nhập khẩu. 

Tổng cục Hải quan đã nhiều lần tổ chức khảo sát ý kiến doanh nghiệp nhằm kịp thời nắm bắt các khó khăn, vướng mắc, lắng nghe ý kiến phản hồi từ cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục xuất, nhập khẩu tại Việt Nam.
Từ đó kiến nghị tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi các quy định pháp luật, triển khai các nội dung cải cách để nâng cao hiệu quả thực thi, góp phần tạo thuận lợi thương mại cho cộng đồng doanh nghiệp, từng bước nâng cao hơn nữa mức độ hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa. 

Năm 2018, Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức khảo sát ý kiến mức độ hài lòng của doanh nghiệp về thực hiện thủ tục hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.
Kết quả khảo sát phản ánh những đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp đối với việc thực hiện thủ tục hành chính hải quan trong năm, cũng như những kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp đối với ngành Hải quan trong thời gian tới. 

Thông qua kết quả khảo sát doanh nghiệp, VCCI kiến nghị ngành hải quan cần sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành liên quan đến thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa, theo đó, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu theo chỉ đạo của Chính phủ tại các Nghị quyết 19 hàng năm như áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, chuyển căn bản về hậu kiểm, áp dụng các thông lệ quốc tế và ứng dụng công nghệ thông tin.
Ngoài ra, trong lĩnh vực hải quan thì các quy định liên quan đến thuế và quản lý thuế như cách xác định trị giá, các thủ tụ không thu thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế. 

Liên quan tới quy định quản lý và kiểm tra chuyên ngành, ông Tuấn cũng kiến nghị, phía hải quan cần nhanh chóng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; việc quản lý theo mức độ tuân thủ và công nhận tiêu chuẩn của các nước tiên tiến có ký thỏa thuận với Việt Nam.
Ngoài ra, cần tăng nghĩa vụ của doanh nghiệp, nhà nhập khẩu... Thêm nữa, cần nhanh chóng thực hiện Nghị quyết 02/2019 của Chính phủ về các nhóm giải pháp cải cách toàn diện việc quản lý, kiểm tra chuyên ngành và kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia...., ông Tuấn kiến nghị./.

Nhiều doanh nghiệp bị phạt tiền "khủng" vì khai sai thủ tục hải quan. Qua công tác thanh tra, kiểm tra đối với các lô hàng đã thông quan, cơ quan hải quan phát hiện nhiều trường hợp nộp thiếu thuế do khai báo sai mã số hàng hóa.


Chi Cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực I đã xử phạt hành chính và truy thu thuế đối với nhiều doanh nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp bị phạt tiền "khủng" vì khai sai thủ tục hải quan
Cụ thể, vào cuối tháng 8/2018, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực I đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH P.L (quận 11, TPHCM) hơn 281 triệu đồng, đồng thời truy thu hơn 1,4 tỷ đồng tiền thuế đối với mặt hàng kính nổi màu.
Theo lực lượng hải quan, công ty P.L đã mở 6 tờ khai nhập khẩu mặt hàng kính nổi màu trị giá gần 3,2 tỷ đồng. Qua kiểm tra hồ sơ, cơ quan hải quan phát hiện doanh nghiệp này khai báo sai mã số, thuế suất dẫn đến thiếu số thuế phải nộp nên đã lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt doanh nghiệp.


Trước đó, vào ngày 23/8/2018, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực I cũng đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH L.M (phường Bình An, quận 2, TPHCM) về hành vi khai sai chủng loại, sai mã số hàng hóa, thuế suất dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp của lô hàng hơn 11,8 tấn vải, trị giá trên 3,1 tỷ đồng. Chi cục đã xử phạt công ty này số tiền gần 90 triệu đồng, truy thu gần 450 triệu đồng tiền thuế.



Qua công tác thanh tra, kiểm tra đối với các lô hàng đã thông quan, cơ quan hải quan phát hiện nhiều trường hợp nộp thiếu thuế do khai báo sai mã số hàng hóa.



Mới đây, qua kiểm tra 51 tờ khai nhập khẩu mặt hàng siro trái cây của Công ty TNHH Một thành viên L.G.V (quận 7, TPHCM), Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực I đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp này về hành vi khai báo sai mã số, thuế suất, dẫn đến thiếu số thuế phải nộp.



Trị giá hàng vi phạm của 51 tờ khai hải quan là trên 41,6 tỷ đồng. Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực I đã ban hành quyết định truy thu gần 2,3 tỷ đồng tiền thuế, đồng thời xử phạt doanh nghiệp này số tiền trên 457 triệu đồng.



Cùng với hành vi trên, ngày 28/8/2018, Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn Khu vực I lập biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH sản xuất M. (TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) về hành vi khai sai mã số, dẫn đến thiếu số thuế phải nộp.



Cụ thể, qua thanh tra từ ngày 1/1/2016 đến ngày 30/6/2017, cơ quan hải quan phát hiện doanh nghiệp này mở 8 tờ khai hải quan nhập khẩu mặt hàng phụ tùng máy nước nóng năng lượng mặt trời, trị giá trên 4,4 tỷ đồng nhưng khai sai mã số hàng hóa, thuế suất. Doanh nghiệp này đã bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền trên 77 triệu đồng, truy thu gần 400 triệu đồng tiền thuế.



Như vậy, tổng số tiền mà lực lượng hải quan TPHCM đã xử phạt hành chính và truy thu thuế đối với các doanh nghiệp là 6 tỷ đồng.



Theo ông Phạm Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM thì tình hình buôn lậu, gian lận thương mại đang có diễn biến phức tạp, đặc biệt là những tháng cuối năm. Việc thông quan hàng hóa tự động cũng phát sinh nhiều thủ đoạn mới, tinh vi hơn của các đối tượng xấu.



Cũng theo ông Hùng, tình hình vận chuyển ma túy trái phép trên địa bàn TPHCM cũng có diễn biến khó lường. Ngoài đường biển và đường hàng không thì đường bưu dịch quốc tế cũng được Cục Hải quan TPHCM xác định là điểm nóng về vận chuyển ma túy. Loại hình xuất nhập khẩu mà các đối tượng tội phạm ma túy lợi dụng và sử dụng là loại hình xuất nhập khẩu phi mậu dịch.



Trong đó, đường hàng không sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất vẫn là một trong những địa bàn trọng điểm, có khả năng cao về trung chuyển các chất ma túy, đặc biệt là xuất heroin, cocaine, cần sa, thuốc lắc và các loại ma túy tổng hợp.



Tuyến bưu điện quốc tế và chuyển phát nhanh là địa bàn trọng điểm về các hoạt động nhập khẩu các loại tân dược có chứa chất gây nghiện, hướng thần, ma túy tổng hợp, thuốc lắc dưới dạng quà biếu, quà tặng.



“Chính vì nạn buôn lậu, gian lận thương mại ngày càng tinh vi nên chúng tôi sẽ tập trung chỉ đạo đấu tranh có trọng điểm đối với mặt hàng trọng điểm theo các chuyên đề, tuyến trọng điểm và các lĩnh vực có nhiều rủi ro”, ông Hùng chia sẻ.

Phân luồng kiểm tra hàng hóa: Hài hoà giữa “phục vụ” và quản lý. Phương thức quản lý rủi ro được áp dụng nhằm tạo thuận lợi cho DN, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý với các DN, hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao.
Việc áp dụng quản lý rủi ro, phân luồng kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) là một phương thức quản lý hiện đại được áp dụng rộng rãi trên thế giới theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) và quy định của Luật Hải quan. Tại Việt Nam, phương thức quản lý rủi ro đang được ngành Hải quan và nhiều bộ, ngành triển khai áp dụng nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) chấp hành tốt pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý với các DN, hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao.
Phương thức quản lý hiện đại
Theo Tổng cục Hải quan, việc áp dụng quản lý rủi ro, phân luồng kiểm tra hàng hóa đối với các lô hàng XNK được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 16, Điều 17 Luật Hải quan; Điều 13, Điều 14, Điều 15 Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan. Theo đó, khi hàng hóa được phân vào luồng Xanh sẽ thông quan ngay; luồng Vàng phải kiểm tra chi tiết hồ sơ; luồng Đỏ phải kiểm tra thực tế hàng hóa.

Hoạt động của máy soi container tại Cảng Green Port, Hải Phòng
Cơ quan Hải quan căn cứ vào kết quả tổng hợp, xử lý các kết quả đánh giá tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro theo tiêu chí do Bộ Tài chính ban hành để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra hải quan và các biện pháp nghiệp vụ hải quan khác.
Về cơ bản, đây là các quy định được thể chế hóa từ các thông lệ quốc tế và các tiêu chuẩn, khuyến nghị của WCO nhằm đảm bảo việc hội nhập của Việt Nam với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là dưới góc độ tạo thuận lợi thương mại toàn cầu. Bên cạnh đó, ngành Hải quan đang triển khai quyết liệt việc thực hiện Nghị quyết 19/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo. Theo đó, một trong những giải pháp trọng tâm là chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, giảm tỷ lệ kiểm tra đối với hàng hóa XNK để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Trong các buổi làm việc với Bộ Giao thông vận tải và Bộ Y tế ngày 17/11, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ- Chủ tịch Ủy ban chỉ đạo quốc gia Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và tạo thuận lợi thương mại, nhấn mạnh: Cần loại bỏ dần việc “tiền kiểm” hàng hoá (XNK) sang “hậu kiểm” dựa trên các nguyên tắc quản trị rủi ro.
“Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn thì lần sau cứ để hàng hoá của họ đi luồng Xanh. Không doanh nghiệp nào dại dột mà lại để mất đi uy tín và quyền lợi của mình, thậm chí là bị truy tố hình sự. Nhưng cũng có loại hàng hoá bắt buộc phải kiểm tra ngay tại cửa khẩu chứ không thể “hậu kiểm” khi được lưu thông, phân phối trong nội địa được”, Phó Thủ tướng nói.
Song hành giữa “phục vụ” và “quản lý”
Theo đại diện Cục Quản lý rủi ro (Tổng cục Hải quan), ngoài việc áp dụng quản lý rủi ro, phân luồng kiểm tra trong quá trình làm thủ tục hải quan nhằm tạo thuận lợi cho cộng đồng DN, giảm thời gian thông quan hàng hóa, để đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các hành vi vi phạm, lợi dụng chính sách thông thoáng của nhà nước trong hoạt động XNK để buôn lậu, gian lận thương mại, ngành Hải quan đã và đang áp dụng đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp, trong đó có thực hiện soi chiếu trước đối với hàng nhập khẩu.
Cụ thể, cơ quan Hải quan tổ chức thu thập, phân tích thông tin trước (thông tin bản lược khai hàng hóa điển tự- E-manifest) nhằm kịp thời phát hiện các lô hàng có dấu hiệu rủi ro, dấu hiệu vi phạm, buôn lậu để thực hiện soi chiếu trước đối với hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 38/2015/TT-BTC.
Đẩy mạnh tự động hóa hoạt động kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai để quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận tờ khai của doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Thông tư số 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC).
Tiến hành các biện pháp kiểm soát, giám sát hải quan; thu thập, trao đổi thông tin nghiệp vụ từ các cơ quan Hải quan, giữa cơ quan Hải quan và các cơ quan chức năng trong và ngoài nước, nguồn tin do quần chúng nhân dân cung cấp để phát hiện các doanh nghiệp, lô hàng vi phạm, kịp thời áp dụng biện pháp dừng hàng qua khu vực giám sát để kiểm tra hoặc khám xét đối với các lô hàng có dấu hiệu vi phạm theo quy định tại khoản 32 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC (bổ sung Điều 52d Thông tư 38/2015/TT-BTC)
Bên cạnh đó, cơ quan Hải quan cũng tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan theo quy định tại Điều 77, Điều 78 Luật Hải quan. Theo đó, cơ quan Hải quan các cấp thường xuyên xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch tăng cường kiểm tra sau thông quan đối với các lô hàng luồng Xanh, qua đó, mỗi năm cơ quan Hải quan phát hiện truy thu hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế cho nhà nước.
Đối với công tác kiểm tra, soi chiếu sau đối với các tờ khai xuất khẩu luồng Xanh đã được thông quan, cơ quan Hải quan tiến hành các biện pháp thu thập thông tin nghiệp vụ, đánh giá rủi ro, xác định các lô hàng xuất khẩu có dấu hiệu rủi ro cao để lựa chọn soi chiếu, kiểm tra theo quy định tại Điều 9 Thông tư 38/2015/TT-BTC.
Việc áp dụng phương thức quản lý rủi ro, phân luồng kiểm tra trong công tác quản lý nhà nước về hải quan được thực hiện đồng bộ, chặt chẽ theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế để góp phần quan trọng cải cách, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, giảm thời gian thông quan hàng hóa, góp phần cải thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo chủ trương của Chính phủ. Cùng với đó, cơ quan Hải quan cũng triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều biện pháp để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, kịp thời phát hiện, xử lý các cá nhân, tổ chức cố tình thực hiện hành vi vi phạm./.

Tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2018, toàn ngành Hải quan đã làm thủ tục hơn 10,3 triệu tờ khai hàng hóa XNK, trong đó, 59,5% tờ khai được phân luồng Xanh, 35,42% tờ khai được phân luồng Vàng, 5,08% tờ khai được phân luồng Đỏ. Trong đó, ngành Hải quan phát hiện hơn 19.000 tờ khai có vi phạm, thực hiện xử lý gần 15.000 lượt cá nhân, tổ chức vi phạm.


CTV Minh Tú/VOV.VN

LIEN ANH CORP

Vận tải đường biển

Vận tải hàng không

Dịch vụ khai hải quan

Gửi hàng nhanh

Dịch vụ ủy thác XNK

Vận tải nội địa

Tư vấn xuất nhập khẩu

Cơ hội giao thương

Cơ hội giao thương

Tuyển dụng

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

HOTLINE / ZALO
0932 706 990

TƯ VẤN
0903 687 383

Email
info@lienanhcorp.com

BÀI VIẾT XEM NHIỀU

FACEBOOK LIEN ANH

DỊCH VỤ VĂN PHÒNG OFFICETEL

THUÊ XE PHÚ KHANG