Đẩy nhanh cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ASEAN. Thời gian qua, Ban Quản lý các khu công nghiệp (KCN) tỉnh đã đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ASEAN mẫu D cho các doanh nghiệp (DN) để tạo thuận lợi trong xuất khẩu. Theo đó, các thủ tục xuất khẩu của DN vào khối ASEAN đơn giản và nhanh hơn.

Trong gần 6 tháng đầu năm 2020, Ban Quản lý các KCN Đồng Nai đã cấp 2.600 giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ASEAN mẫu D cho các DN với trị giá hàng xuất khẩu 136 triệu USD. Hiện nay, Bộ Công thương cho triển khai nhanh cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ASEAN mẫu D điện tử để giảm chi phí, thời gian cho các DN.


* Giảm bớt thủ tục xuất khẩu

Từ cuối năm 2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN có hiệu lực, giao thương hàng hóa của 10 nước trong khối thuận lợi hơn. Các quốc gia thuộc ASEAN cũng đẩy mạnh xuất nhập khẩu trong khối để tận dụng ưu đãi về thuế quan, thủ tục nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình làm ra. Các nước thuộc ASEAN cũng từng bước thực hiện các cam kết tạo thành một khối thống nhất cho hàng hóa, vốn, lao động tự do luân chuyển. Đồng thời, đẩy mạnh một cửa quốc gia và tiến đến là một cửa ASEAN.

Bà Đinh Thị Bích Vân, Trưởng phòng Xuất nhập khẩu Công ty Hualon Corporation Việt Nam ở KCN Nhơn Trạch 2 (H.Nhơn Trạch) chia sẻ:  “Công ty xuất khẩu rất nhiều mặt hàng vải, sợi vào các nước trong ASEAN nên khi đăng ký cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ASEAN mẫu D và được Ban Quản lý các KCN Đồng Nai hỗ trợ để làm thủ tục xuất khẩu sản phẩm đơn giản hơn nhiều so với trước đây. Đặc biệt, DN giảm được nhiều công đi lại và thời gian xuất hàng hóa rút ngắn, bớt được các chi phí khác phát sinh”.

Tương tự, nhiều DN khác trong các KCN của tỉnh khi có sản phẩm xuất vào ASEAN cũng được hỗ trợ cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Mục tiêu của tỉnh là nhằm từng bước đơn giản hóa mọi thủ tục cho DN hoạt động hiệu quả và tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng để thu hút DN mới và DN đang hoạt động tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Theo Trưởng ban Quản lý các KCN Đồng Nai Cao Tiến Sỹ, Ban Quản lý từng bước đơn giản các thủ tục hành chính cho DN trong các KCN để giảm chi phí, thời gian, giúp  họ hoạt động tốt hơn. Trong đó, có nhiều thủ tục DN có thể kê khai qua mạng.

* Cấp mẫu xuất xứ hàng hóa điện tử

Từ đầu tháng 1-2020, Bộ Công thương đã triển khai cấp giấy chứng nhận hàng hóa ASEAN mẫu D điện tử cho những sản phẩm vào Thái Lan, Campuchia, Brunei, Singapore, Indonesia và Malaysia. Đây được xem là một bước tiến mới trong hội nhập sâu với các nước trong khối để tạo thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam, tiết kiệm thời gian, chi phí cho DN xuất khẩu.

Mới đây, trong hội nghị trực tuyến giữa Chính phủ với các tỉnh, thành trên cả nước để gỡ khó cho nền kinh tế sau dịch bệnh Covid-19, Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh cho hay: “Việt Nam là nước đi đầu thế giới trong việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do. Các hiệp định thương mại được ký kết sẽ giúp DN mở rộng được thị trường xuất khẩu, tăng cạnh tranh do hưởng các ưu đãi về thuế quan. Bên cạnh đó, Bộ Công thương đẩy mạnh việc đơn giản các thủ tục xuất nhập khẩu, từng bước thực hiện kê khai qua mạng, cấp giấy chứng nhận hàng hóa điện tử”.

Cũng theo Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh, các địa phương đang triển khai cấp giấy chứng nhận hàng hóa điện tử vào các nước ASEAN, điều này tạo ra cách làm việc mới, DN không cần đến tận Ban Quản lý các KCN hoặc hải quan để kê khai. Như vậy sẽ tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch hơn.

Theo Bộ Công thương, trong 5 năm trở lại đây, cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa vào các nước ASEAN tăng gấp gần 3 lần. Cụ thể năm 2013, cả nước có khoảng 66 ngàn bộ thì năm 2019 đã tăng lên 180 ngàn bộ.

Tại Đồng Nai việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ASEAN mẫu D được đẩy mạnh để cải tạo và nâng điểm cho môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Trần Văn Vĩnh cho biết: “Từ lâu Đồng Nai đã có chính sách đồng hành với DN để mọi khó khăn, vướng mắc của DN được kịp thời tháo gỡ giúp họ hoạt động hiệu quả. Tỉnh rất chú ý đến việc đơn giản thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để DN kê khai qua mạng, giảm chi phí, thời gian cho DN”.

Hiện nay, ngành hải quan, thuế, kế hoạch - đầu tư cũng triển khai công tác đăng ký thành lập DN, kê khai thuế, làm thủ tục xuất nhập khẩu qua mạng giúp DN giảm được nhiều chi phí và thời gian.

 Khánh Minh


Tổng cục hải quan gỡ khó cho doanh nghiệp về mã số mã vạch. Ngày 10-6, Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) vừa có công văn gửi Cục hải quan các tỉnh, thành phố về việc sử dụng mã số, mà vạch nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu.


Theo đó, khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, công chức hải quan không yêu cầu người khai hải quan phải xuất trình văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc sử dụng mã số mã vạch nước ngoài. 
Người khai hải quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng mã số mã vạch của nước ngoài gắn trên hàng hóa, bao bì sản phẩm xuất khẩu.
Như vậy, doanh nghiệp chỉ cần đưa ra bằng chứng đã được doanh nghiệp nước ngoài hoặc cơ quan nước ngoài ủy quyền in mã số mã vạch trên sản phẩm là được chứ không phải có xác nhận của Tổng cục đo lường chất lượng (Bộ Khoa học công nghê) như trước nữa, và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với các tài liệu cung cấp.
Tổng cục hải quan cũng yêu cầu cơ quan hải quan không thực hiện xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến sử dụng mã số mã vạch nước ngoài gắn trên hàng hóa xuất khẩu. 
Trường hợp phát hiện doanh nghiệp chưa có giấy ủy quyền của nước ngoài thì hải quan sẽ báo cho Tổng cục đo lường chất lượng biết để xử lý theo quy định.
TRẦN MẠNH


Quản lý hải quan hàng xuất, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tửBộ Tài chính đang đề nghị xây dựng Nghị định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử.

Bộ Tài chính cho biết, thương mại điện tử là xu hướng tất yếu trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam cũng như của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng cao của thương mại điện tử nên đòi hỏi các cơ chế chính sách quản lý phải thay đổi phù hợp với hoạt động của thương mại điện tử đặc biệt là thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Qua nghiên cứu, Bộ Tài chính nhận thấy việc cần thiết xây dựng Nghị định quy định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử xuất phát từ các yêu cầu cơ bản sau:

Một là, yêu cầu từ sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trên toàn thế giới và Việt Nam cũng không thể nằm ngoài sự phát triển này. Theo đánh giá của Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam tại báo cáo về Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam (EBI) trong 05 năm gần đây thì tốc độ tăng trưởng trung bình năm của Việt Nam từ 25-30%. Nếu Việt Nam vẫn duy trì mức độ tăng trưởng này thì quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2025 đứng thứ ba Đông Nam Á sau Indonesia và Thái Lan. Với tốc độ tăng trưởng cao như trên cần thiết phải có những biện pháp quản lý mới phù hợp với hoạt động giao dịch thương mại điện tử qua biên giới. Các biện pháp quản lý của nhà nước phải đảm bảo việc quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động thương mại điện tử qua biên giới.
Hai là, yêu cầu từ công tác phòng ngừa, đấu tranh đối với hành vi buôn lậu hàng hóa qua biên giới đất liền. Do thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử được thực hiện như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông thường, vì vậy, trong một số trường hợp hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử không có đủ hồ sơ chứng từ chứng minh trị giá giao dịch với cơ quan hải quan, nên số hàng hóa này không được cơ quan hải quan tính thuế theo trị giá giao dịch thực mà tính toán theo các phương pháp tính trị giá khác nên trị giá tính thuế thường cao hơn so với trị giá thực của hàng hóa.
Ngoài ra, một số mặt hàng phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan chuyên ngành, trong khi đó nếu cá nhân mua hàng với số lượng nhỏ thì không thể có đủ hồ sơ chứng từ để xuất trình cho các cơ quan quản lý chuyên ngành để thực hiện thủ tục hải quan.
Vì vậy, hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử khi nhập khẩu vào Việt Nam tiềm ẩn rủi ro về gian lận thương mại, gian lận thuế, vi phạm về sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa,…
Ba là, vướng mắc khi thực hiện thủ tục hải quan theo các quy định hiện hành. Theo quy định hiện hành thì đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử hay xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch theo phương thức truyền thống thủ tục hải quan được thực hiện giống nhau. Tuy nhiên, đặc điểm của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử là hàng hóa nhỏ lẻ, trị giá thấp, hàng hóa của cá nhân, thời gian giao dịch để mua bán hàng hóa đơn giản, nhanh chóng nên số lượng các lô hàng trị giá nhỏ tăng nhanh. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử khi thực hiện thủ tục hải quan gặp nhiều vướng mắc.
Vì vậy, Bộ Tài chính nhận thấy cần thiết phải xây dựng một Nghị định bao gồm các nội dung nhằm đảm bảo việc tháo gỡ các vướng mắc nêu trên. Việc xây dựng Nghị định nhằm tạo hành lang pháp lý để các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện thủ tục hải quan chủ động, thuận lợi.
Siết kiểm tra việc cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa Việt NamHàng loạt giải pháp cấp bách được Chính phủ ban hành trong Nghị quyết số 119/NQ-CP nhằm phòng chống gian lận xuất xứ.

Nghị quyết số 119/NQ-CP được ký ban hành ngày 31.12.2019 nêu rõ, trong thời gian qua Việt Nam đã tham gia ký kết và đàm phán 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Khi thực hiện các Hiệp định FTA này, phần lớn hàng hóa có xuất xứ Việt Nam được hưởng miễn thuế nhập khẩu khi xuất sang các đối tác FTA. Trong khi đó nhiều đối tác trên 
thế giới đang tăng cường sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp... với mức rất cao, gây nhiều hệ lụy và làm giảm khả năng xuất khẩu của nước bị áp thuế. Dẫn tới việc một số doanh nghiệp tìm cách gian lận xuất xứ hàng hóa, lợi dụng xuất xứ hàng hóa của Việt Nam để được hưởng ưu đãi, lợi thế thương mại hoặc lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thương mại quốc tế, đặc biệt là xung đột thương mại Mỹ-Trung, sự điều chỉnh chính sách của một số quốc gia đối tác lớn gần đây thì cần có giải pháp đồng bộ, hiệu quả để tăng cường quản lý nhà nước về ngăn chặn gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp nhằm phát triển bền vững xuất khẩu; góp phần bảo vệ và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanhtrong những ngành, lĩnh vực liên quan.
Do đó Chính phủ giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật như sửa đổi hoặc thay thế quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo hướng tăng mức xử phạt đối với các hành vi liên quan đến gian lận xuất xứ, giả mạo nhãn hàng hóa nhằm tăng tính răn đe.
Bộ Công thương phải theo dõi, thống kê, cập nhật thường xuyên và kịp thời cung cấp danh sách các mặt hàng bị điều tra, áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp cũng như các mặt hàng có nguy cơ bị gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp cho Bộ Tài chính và các bộ, ngành, tổ chức liên quan, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để tăng cường kiểm soát chặt chẽ, kiểm tra, thanh tra, đặc biệt đối với việc cấp C/O và giám sát hoạt động đầu tư, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu.
Bộ Công thương còn được giao tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các tổ chức cấp C/O và thường xuyên kiểm tra, giám sát các tổ chức cấp C/O (cả C/O ưu đãi và C/O không ưu đãi) bảo đảm tuân thủ nghiêm các quy định về xuất xứ hàng hóa. Cũng như tăng cường phối hợp giữa các tổ chức cấp C/O trong việc trao đổi thông tin; tăng cường hướng dẫn về chuyên môn và nghiệp vụ các cán bộ cấp C/O, nâng cấp cơ sở vật chất, lưu trữ hồ sơ, chứng từ... tạo thuận lợi cho việc xác minh xuất xứ khi có yêu cầu.
Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương thường xuyên giám sát, cập nhật thông tin dữ liệu về tình hình cấp C/O để phát hiện các diễn biến bất thường; tiếp tục triển khai rộng rãi cơ chế phân luồng trong việc tiếp nhận hồ sơ và cấp C/O, cập nhật thường xuyên danh sách các doanh nghiệp và mặt hàng trong diện nguy cơ rủi ro cao để đưa vào luồng đỏ. Cơ quan này cũng phải tăng cường theo dõi, giám sát đối với các doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ để tránh các trường hợp lợi dụng thực hiện hành vi gian lận về xuất xứ hàng hóa.  
Đối với Bộ Tài chính, Chính phủ yêu cầu chỉ đạo Tổng cục Hải quan theo dõi số liệu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng thuộc danh sách và các mặt hàng Việt Nam đang điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để hằng tháng cung cấp thông tin cho Bộ Công thương, Bộ Công an. 
Siết chặt công tác kiểm tra xuất xứ từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến khâu kiểm tra sau thông quan. Xây dựng mạng lưới nghiệp vụ để kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu...
Mai Phương

Quy định mới về hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài xuất cảnhBộ Tài chính ban hành Thông tư số 92/2019/TT-BTC ngày 31/12/2019 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 72/2014/TT-BTC quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hóa của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang theo khi xuất cảnh.
Thông tư số 92/2019/TT-BTC bổ sung quy định về hệ thống quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài và cách truy cập. Theo đó, hệ thống quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài là hệ thống tích hợp, lưu trữ, trao đổi thông tin liên quan đến việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân do Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành.
Các đối tượng được truy cập và trao đổi thông tin với Hệ thống: Cơ quan hải quan; Cơ quan thuế; Ngân hàng thương mại là đại lý hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài; Doanh nghiệp được cơ quan thuế công nhận là doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài.
Căn cứ các thông tin trên hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập xuất cảnh còn giá trị và hàng hóa được mua, doanh nghiệp bán hàng lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế cho hàng hóa trên Hệ thống hoặc phần mềm của doanh nghiệp kết nối với Hệ thống, nhập đầy đủ thông tin theo mẫu quy định, ký số, truyền các thông tin về hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế.
Trường hợp Hệ thống xảy ra sự cố, doanh nghiệp không truy cập được vào Hệ thống, doanh nghiệp lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo mẫu quy định, ký, đóng dấu và giao cho người nước ngoài. Chứng từ in ra là cơ sở để cơ quan hải quan kiểm tra đối chiếu với hàng hóa của người nước ngoài.
Ngay sau khi Hệ thống hoạt động bình thường, doanh nghiệp bán hàng cập nhật các thông tin đã lập tại hóa đơn giấy vào Hệ thống như trường hợp lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế trên Hệ thống. Hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế được cập nhật trên Hệ thống phải đảm bảo trùng khớp về số, ký hiệu, nội dung thể hiện trên hóa đơn giấy.
Thông tư số 92/2019/TT-BTC quy định, Tổng cục Hải quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị của ngân hàng thương mại, trình Bộ Tài chính lựa chọn Ngân hàng thương mại làm đại lý hoàn thuế theo đúng quy định và tiếp nhận hồ sơ đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, trình Bộ Tài chính lựa chọn sân bay, cảng biển quốc tế áp dụng hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài đảm bảo hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu quản lý.
Ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo, cơ quan hải quan thông báo bằng văn bản với Cục thuế quản lý doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế giá trị gia tăng các trường hợp sau:
Một là, doanh nghiệp không lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo mẫu trên Hệ thống hoặc lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế nhưng không truyền đến Hệ thống trừ trường hợp Hệ thống xảy ra sự cố theo quy định.
Hai là, doanh nghiệp lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế với các thông tin không đầy đủ, chính xác theo quy định.
Ba là, doanh nghiệp vi phạm các quy định về việc hoàn thuế giá trị gia tăng.
Về thanh toán, hoàn trả số tiền thuế đã ứng trước, tiền phí dịch vụ hoàn thuế giá trị gia tăng, định kỳ tối đa 5 ngày làm việc một lần, ngân hàng thương mại căn cứ tình hình thực tế, lập hồ sơ đề nghị thanh toán, hoàn trả số tiền thuế đã ứng trước, tiền phí dịch vụ hoàn thuế được hưởng trên Hệ thống và gửi Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại đăng ký, khai thuế, Cục Hải quan địa phương nơi Ngân hàng thương mại thực hiện việc hoàn thuế.
Trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị thanh toán của ngân hàng thương mại, căn cứ thông tin xác nhận hoàn thuế do cơ quan hải quan cung cấp theo đường điện tử, Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại đăng ký, khai thuế ban hành Quyết định thanh toán theo mẫu; đồng thời lập Lệnh hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước để thực hiện chuyển tiền cho ngân hàng thương mại. Căn cứ Quyết định thanh toán và Lệnh hoàn trả do Cục Thuế ban hành, Kho bạc Nhà nước chuyển tiền cho ngân hàng thương mại.
Theo Thông tư số 92/2019/TT-BTC, chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo của quý phát sinh nghĩa vụ thuế, doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế báo cáo cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc bán hàng cho người nước ngoài.
Định kỳ hàng tháng, chậm nhất vào ngày 10 của tháng sau, Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bán hàng đăng ký, khai thuế chủ trì phối hợp với Kho bạc Nhà nước đối chiếu số tiền hoàn thuế giá trị gia tăng; phối hợp với Cục Hải quan đồng cấp rà soát, đối chiếu số tiền thuế giá trị gia tăng doanh nghiệp bán hàng đã kê khai hoặc đã nộp, tiền thuế giá trị gia tăng và tiền phí dịch vụ hoàn thuế đã thanh toán cho ngân hàng thương mại để đảm bảo khớp đúng số liệu giữa các bên. Trường hợp số liệu không khớp đúng, các cơ quan phối hợp tìm nguyên nhân và xử lý bảo đảm việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài theo đúng quy định.
Cục Thuế nơi Ngân hàng thương mại đăng ký, khai thuế tổng hợp báo kết quả và tình hình thanh toán, hoàn trả tiền thuế đã ứng trước, tiền phí dịch vụ hoàn thuế cho ngân hàng thương mại; các Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo kết quả, tình hình bán hàng cho người nước ngoài của doanh nghiệp bán hàng hoàn thuế theo địa bàn quản lý với Tổng cục Thuế theo quy định do Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ban hành.
N.Ánh

Xuất khẩu nông sản thời dịch: Trong nguy có cơTheo đánh giá tình hình của ngành nông nghiệp, các ngành hàng thủy sản, gỗ, rau quả và gạo sẽ bị ảnh hưởng lớn từ các diễn biến phức tạp của dịch viêm phổi cấp từ Trung Quốc. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các ngành hàng chuyển đổi phương thức sản xuất và kinh doanh. Thực tế, các ngành hàng đa phần đã có sự chuẩn bị để thích ứng với biến động mạnh này từ thị trường xuất khẩu truyền thống.


Doanh nghiệp sẵn sàng nắm bắt cơ hội
Ngày 3/2, Bộ NN&PTNT phối hợp đã tổ chức Hội nghị về thúc đẩy thương mại và phát triển sản xuất nông sản trước tác động của dịch bệnh Corona. Trái với dự đoán bi quan về việc nông sản Việt đang bị phụ thuộc quá nhiều vào thị trường lớn của Trung Quốc, đại diện các hiệp hội đều đã nêu cao tinh thần chủ động ứng phó với biến động lớn này.
Đối với ngành lâm sản, ông Nguyễn Tôn Quyền, Nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết: “Do ảnh hưởng của dịch cúm do virus corona, những lô hàng xuất khẩu dăm gỗ sang Trung Quốc ngay lập tức giảm mạnh, nhưng tôi cho rằng, đây là cơ hội cho ngành chế biến, xuất khẩu gỗ bởi xuất khẩu dăm gỗ mang lại giá trị không cao, không phát triển bền vững vốn rừng”.
Ông Quyền phân tích: “Tới đây, khi xuất khẩu dăm gỗ giảm sẽ bổ sung nguồn nguyên liệu gỗ trong nước để sản xuất ván nhân tạo, MDF, tạo ra giá trị gia tăng cao. Trong 2 tuần qua, nhiều doanh nghiệp của ngành gỗ đã chuyển hướng, đã có 3 - 4 doanh nghiệp chuyên làm dăm xuất khẩu mua thiết bị sản xuất gỗ ván ép, gỗ nhiên liệu”.
Ông Quyền cũng nêu kiến nghị nhà nước xem xét tạo điều kiện về lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp bắt đầu chuyển hướng mua thiết bị để sản xuất, chế biến sâu các sản phẩm dăm, viên nén… này để doanh nghiệp sớm hoàn thiện dây truyền sản xuất, bắp kịp cơ hội này.
Còn đối với ngành thủy sản, ông Nguyễn Hoài Nam (Phó tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam) cho biết: Hiện nay, tác động hủy đơn hàng với mặt hàng thủy sản do dịch cúm do virus corona chưa có, nhưng đã có việc chậm đơn hàng, điều chỉnh đơn hàng. Các đối tác hứa ngày 16/2 mới bắt đầu nhận hàng. Khó khăn trước mắt là, một số hãng tàu biển lớn ngưng nhận các container hàng chở đi Trung Quốc. Các khách hàng lớn Nhật Bản đề nghị không đưa hàng qua Trung Quốc.
Những doanh nghiệp có xuất sang Trung Quốc sản lượng lớn, hiện đang tồn kho, chi phí tồn kho lớn. Tại Trung Quốc, nhiều khách hàng bán trực tiếp các nhà hàng, khi các hệ thống nhà hàng ngừng hoặc giảm thì các cửa hàng thực phẩm lớn giảm hoặc ngưng vì không muốn mất chi phí lưu hàng hóa.
“Rủi ro có, nhưng cũng có một số cơ hội. Chúng tôi thấy có 2 cơ hội thúc đẩy tranh thủ sản xuất không tác động nhiều. Trước hết là chuẩn bị hàng đồ hộp, đông lạnh. Những sự kiện như thế này sau 3-5 tháng, sự điều chỉnh văn hóa tiêu dùng rõ rệt, không ăn sống nhiều, hàng tươi sẽ ít đi, nhưng hàng đồ hộp, đông lạnh sẽ có nhu cầu lớn. Cơ hội thứ hai, một số ngành Trung Quốc đang cạnh tranh với chúng ta như cá ngừ, Trung Quốc là 1 trong 5 nước bán cá ngừ lớn, hiện nay các nước không mua cá ngừ Trung Quốc nên giá giảm sâu. Các doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam đang coi đây là cơ hội đối với các nguồn tiêu thụ khác, gia tăng thị phần, giá cả”.
Đối với ngành hàng gạo, bà Bùi Thị Thanh Tâm, Tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Bắc cho biết: “Trước đây 5, 6 năm thì thị trường Trung Quốc là thị trường rất lớn của chúng ta nhưng hiện nay ta đã mở rộng ra nhiều thị trường khác nhau nên giá trị nhập khẩu của thị trường này cũng không còn quá chi phối ngành hàng gạo nữa”.
 Ông Nguyễn Công Trưởng,Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn - Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Thanh long, dưa hấu là “gót chân Asin”
Tuy đa số các ngành hàng cũng khá cập nhật tình hình từ cửa khẩu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Nguyễn Công Trưởng cho biết hiện vẫn có các xe hàng nông sản đổ về các cửa khẩu của Lạng Sơn dù tình hình thông quan chưa khả thi thời điểm này.
Năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Lạng Sơn và các tỉnh Trung Quốc đạt khoảng 4,75tỷ USD, trong đó xuất siêu trên 2 tỷ USD. Tổng số có 186.272 xe xuất khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh Lạng Sơn, một con số rất lớn.
“Riêng tháng 12, lượng xe thông quan qua các cửa khẩu của tỉnh là 12.600 xe, giảm so với cùng kỳ, do nguyên nhân dịch bệnh, kiểm soát xe cộ và truy xuất nguồn gốc. Trước Tết, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn bình thường, đến 28 Tết Canh Tý tại các cửa khẩu của Lạng Sơn đã xuất toàn bộ hàng, không còn xe nào tồn đọng. Tuy nhiên, từ mùng 1 Tết, dịch bệnh bùng phát, Trung Quốc đóng 9 cặp chợ biên giới từ 31/1 đến 8/2, nếu dịch còn tiếp diễn phức tạp sẽ đóng kéo dài nên xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc gặp khó, hiện vẫn còn 333 xe chở nông sản đang chờ thông quan, trong đó có 190 xe thanh long, trọng lượng trên 5.300 tấn”, ông Trưởng cho biết.
Qua rà soát của Bộ NN&PTNT, từ nay đến hết Rằm tháng Giêng âm lịch, tại tỉnh Long An lượng thu hoạch thanh long khoảng 21.600 tấn. Đợt tiếp theo từ ngày 8/2-28/2 thu hoạch khoảng 54.000 tấn. Đầu tháng 3, tại Tiền Giang thu hoạch khoảng 10.000 tấn, Bình Thuận khoảng 100.000 tấn... Hầu hết các sản phẩm trái cây nêu trên là xuất khẩu tươi, chưa qua chế biến.
Tuy các địa phương đã hướng dẫn, chủ động trong điều chỉnh kế hoạch sản xuất nhưng tình trạng ùn tắc, dư cung cục bộ sẽ diễn ra do việc hạn chế giao dịch tại các cặp chợ biên giới trên địa bàn tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, lịch nghỉ Tết Nguyên Đán của Trung Quốc kéo dài và các biện pháp đảm bảo công tác phòng chống dịch viêm phổi cấp được triển khai từ cả hai phía.
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhìn nhận tình hình xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc sẽ có nhiều khó khăn tới do các đoàn đàm phán hai bên sẽ khó tiếp tục lịch trình để mở cửa chính thức cho nhiều loại nông sản. Đối với trước mắt, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhận định: “Hiện nay “gót chân Asin” của xuất khẩu nông sản chính là rau quả, lõi là thanh long, có thế tới đây là dưa hấu. Để ứng phó được cần sự đồng hành, quyết tâm của khu vực nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp, người dân. Các tỉnh, hiệp hội rà soát các ngành hàng. Như ở Long An, nông dân không kích thích ra hoa trái vụ thanh long. Với 150 cơ sở trên địa bàn với hơn 100 cơ sở có kho đông lạnh phải cân đối, tập trung dự trữ trong các kho lạnh, tăng chế biến và đưa ra các giải pháp để tiêu thụ ổn định chừng 30.000 tấn/tháng”.
Cùng với đó, các doanh nghiệp bán lẻ như Hapro, Big C… cần vào cuộc tích cực, khi mặt hàng thanh long dễ tổn thương, chưa đi qua biên giới được thì hết sức chú ý thị trường trong nước. Riêng nhóm dưa hấu, Bộ trưởng chỉ đạo bà con nông dân và các địa phương hạn chế xuống giống, chuyển qua các cây trồng khác như: đậu tương, ngô, rau…
Đỗ Hương
Tăng sức cạnh tranh của hàng hoá qua dịch vụ hải quan. Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, có tới 87,8% các doanh nghiệp ngành logistics cung cấp dịch vụ khai báo hải quan. 

Điều đó cho thấy nghề cung cấp dịch vụ hải quan, cụ thể là đại lý hải quan và bảo lãnh thông quan đang dần trở thành dịch vụ cơ bản của các công ty logistics và là một trong những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị của ngành logistics...
Ông Âu Anh Tuấn, Cục Giám sát quản lý về hải quan - Tổng cục Hải quan chia sẻ, trong nhiều năm qua đại lý làm thủ tục hải quan đã trở thành cánh tay nối dài giúp cơ quan hải quan cũng như doanh nghiệp xuất, nhập khẩu giảm tải áp lực công việc, cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhanh chóng trong thủ tục hải quan. 
Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, hiện nay trên toàn quốc có khoảng 1.000 đại lý thủ tục hải quan được Tổng cục Hải quan công nhận đủ điều kiện hoạt động và có khoảng 1.800 nhân viên đại lý hải quan đã được cấp mã số. 
Tuy nhiên các đại lý thủ tục hải quan đang chủ yếu tập trung tại các khu vực có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, tại các cảng biển, cảng hàng không trọng điểm tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và các khu công nghiệp lớn như Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc...
Một khảo sát gần đây của Tổng cục Hải quan cho thấy, tỉ lệ tờ khai đại lý được ủy quyền nộp thuế thay hoàn toàn cho chủ hàng chỉ chiếm 9,9%, đặc biệt là mức độ tin cậy của đại lý chưa được đánh giá ở mức cao, chỉ chiếm tỉ lệ dưới 10%. Nguyên nhân được báo cáo khảo sát này cho rằng là do nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa tin tưởng nhiều vào đại lý hải quan. 
Lý giải về sự thiếu niềm tin này, đại diện Tổng cục Hải quan cho rằng doanh nghiệp xuất nhập khẩu không muốn làm thủ tục hải quan qua đại lý trung gian do phát sinh chi phí, tốn thêm nhiều thủ tục và rủi ro phát sinh về sau. 
Do đó nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường trực tiếp làm thủ tục hải quan, nếu thuê đại lý thì không ký hợp đồng dịch vụ mà ký giấy giới thiệu cho nhân viên đại lý thành nhân viên của mình để làm thủ tục hải quan... 
Những việc này thường đẩy rủi ro sau thông quan về phía các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hoá. Thực tế là nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa hiểu lợi ích của việc sử dụng dịch vụ đại lý, do đó mặc dù phần lớn doanh nghiệp logistics đều cung cấp dịch vụ này.
"Mục tiêu của ngành hải quan là phát triển đại lý làm thủ tục hải quan như các nước tiên tiến, việc làm thủ tục hải quan 80-90% thông qua đại lý. Do đó, đã có nhiều quy định nới lỏng các thủ tục mở đại lý thủ tục hải quan. Đặc biệt là việc đại lý có thể chịu trách nhiệm toàn bộ lô hàng khi xuất nhập khẩu nếu khai sai mã hàng hoá, giá, thuế... 
Những quy định này sẽ giúp cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu có niềm tin hơn khi kí hợp đồng đại lý làm thủ tục hải quan...", ông Âu Anh Tuấn giải thích. 
Cũng theo ông Tuấn, ở nhiều nước hoạt động đại lý hải quan phát triển mạnh, như tại Nhật Bản 90% số lượng tờ khai hải quan được thực hiện thông qua địa lý hải quan, còn ở Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan số lượng chiếm trên 80%.
Ông Âu Anh Tuấn nhấn mạnh, "để đại lý thủ tục hải quan chuyên nghiệp, thực sự trở thành cánh tay nối dài giúp cơ quan hải quan cũng như doanh nghiệp xuất nhập khẩu giảm áp lực công việc, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 22/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2015/TT-BTC. 
Theo đó, đại lý hải quan đã được hưởng lợi rất nhiều từ cơ chế chính sách như đã đơn giản hóa khi cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan, thủ tục công nhận đại lý hải quan, thủ tục cấp mã số nhân viên hải quan...".
Liên quan đến dịch vụ bảo lãnh thông quan, hiện Tổng cục Hải quan với sự hỗ trợ của Liên minh tạo thuận lợi thương mại toàn cầu (GATF) đang khẩn trương tổ chức đợt làm việc tập trung nhằm hoàn thiện Đề án thí điểm bảo lãnh thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, sớm báo cáo Bộ Tài chính trình Chính phủ, Quốc hội. 
Ông Mai Xuân Thành, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan cho biết, việc áp dụng cơ chế bảo lãnh thông quan sẽ giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu thay vì phải chờ nộp đầy đủ thuế, thực hiện các nghĩa vụ về kiểm tra chuyên ngành thì có thể đưa hàng về để sản xuất, kinh doanh. 
Doanh nghiệp chỉ cần ký hợp đồng với tổ chức bảo hiểm để họ đứng ra bảo đảm với hải quan việc doanh nghiệp sẽ thực hiện tất cả nghĩa vụ với cơ quan nhà nước. Bảo lãnh thông quan trên thực tế đã được áp dụng tại nhiều quốc gia và mang lại những kết quả khả quan. 
Đây không chỉ là công cụ giúp cho cơ quan hải quan nâng cao năng lực quản lý, nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp mà còn giúp cho hàng hóa được thông quan nhanh chóng, giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Trước kia, nếu muốn bảo lãnh thuế thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là được sự bảo lãnh của ngân hàng và đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm. 
Với việc mở rộng đối tượng tham gia bảo lãnh thông quan cho các doanh nghiệp, tổ chức bảo hiểm thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu không nhất thiết phải có tài sản đảm bảo cho khoản tiền phải thế chấp. 
Các đơn vị bảo hiểm sẽ phân tích khả năng hoạt động, khả năng chi trả thay vì chỉ nhìn vào số tài sản doanh nghiệp và cơ hội kinh doanh sẽ đến nhiều hơn với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
"Theo kinh nghiệm các nước đã áp dụng thì việc bảo lãnh thông quan sẽ làm giảm chi phí hành chính từ 0,1 - 0,5%, giảm chi phí thông quan từ 0,5 - 0,8% trị giá lô hàng và từ đó sẽ thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu có thể tăng 1%, tạo ra sự cạnh tranh tốt hơn cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trong phạm vi khu vực và thế giới...", ông Mai Xuân Thành nhấn mạnh. 
Như vậy, đại lý thủ tục hải quan và bảo lãnh thông quan đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị logistics mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần hướng đến sử dụng để giảm chi phí logistics, tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hoá của mình.

Xác định giá trị hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo nguyên tắc nào?Đây là nội dung được không ít doanh nghiệp hoạt động xuất, nhập khẩu hành hóa quan tâm. Một số doanh nghiệp lúng túng khi chưa nắm bắt kịp thời về quy định hướng dẫn mới về về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.



Ngày 30/8/2019, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 60/2019/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Theo đó, kể từ ngày 15/10/2019, việc xác định giá trị hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp quy định tại Thông tư số 60/2019/TT-BTC với các nội dung sau:
Nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hàng hóa xuất khẩu, chuyển toàn bộ quy định về nguyên tắc và phương pháp hàng xuất khẩu hiện đang quy định tại khoản 14 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC về Thông tư 60/2019/TT-BTC.
Thông tư quy định chi tiết phương pháp xác định trị giá theo giá bán hàng hóa đến cửa khẩu xuất theo từng điều kiện giao hàng xuất khẩu khác nhau gồm giao hàng tại cửa khẩu xuất, giao hàng trong nội địa Việt Nam và giao hàng tại địa điểm giao hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Đồng thời, Thông tư mới cũng bổ sung nội dung mở rộng khái niệm hàng hóa giống hệt, tương tự tại phương pháp giá bán của hàng hóa xuất khẩu do cơ quan hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại như quy định đối với hàng nhập khẩu để đảm bảo tính thống nhất. Bên cạnh việc bổ sung một số quy định trên, có 05 nội dung sửa đổi quan trọng là:
Một là, quy định về xác định trị giá hải quan của máy móc, thiết bị có chứa phần mềm điều khiển, vận hành nhập khẩu: Sửa đổi quy định chi tiết các tình huống trị giá của phần mềm điều khiển, vận hành phải cộng hoặc không phải cộng vào trị giá giao dịch của máy móc, thiết bị; Thủ tục khai báo cho người khai hải quan và trình tự kiểm tra, xử lý của cơ quan hải quan để đáp ứng tình hình thực tế hiện nay. Đồng thời, quy địnhh mới cũng nêu rõ phần mềm ứng dụng không phải cộng vào trị giá của phương tiện trung gian.
Hai là, quy định về chứng minh mối quan hệ đặc biệt có hay không ảnh hưởng đến giá cả mua bán trong giao dịch mua bán hàng hóa nhập khẩu: Sửa đổi quy định các chứng từ, tài liệu yêu cầu doanh nghiệp xuất trình; Trường hợp cơ quan hải quan bác bỏ hoặc chấp nhận; Trường hợp phải tổ chức đối thoại nhằm tăng cường tính minh bạch, tạo điều kiện cho người khai hải quan và công chức hải quan dễ dàng áp dụng vào thực tế.
Ba là, quy định về phí bản quyền, phí giấy phép: Thông tư mới đã sửa đổi điều kiện “liên quan đến hàng hóa nhập khẩu” và “như một điều kiện mua bán” để phù hợp với các khuyến nghị của WCO. Mặt khác, bổ sung thêm quy định về việc xử lý của cơ quan hải quan đối với trường hợp người khai hải quan khai báo đúng về phí bản quyền để phù hợp với thực tế và đảm bảo đầy đủ các trường hợp; Mô tả chi tiết các giao dịch tại các tình huống về phí bản quyền tại Phụ lục I Thông tư số 39/2015/TT-BTC nhằm đảm bảo dễ hiểu, dễ áp dụng.
Bốn là, quy định về phương pháp suy luận: Việc vận dụng linh hoạt từng phương pháp đúng theo nguyên tắc trình tự để xác định trị giá hải quan; Phương pháp trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu là một phương pháp được vận dụng và phải được vận dụng đầu tiên; Trường hợp không được sử dụng giá tham chiếu trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá để xác định trị giá hải quan cho hàng hóa, thống nhất với nguyên tắc sử dụng Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có rủi ro về trị giá.
Năm là, quy định về xác định trị giá đối với một số trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đặc thù: Việc xác định trị giá hải quan cho các trường hợp hàng hóa nhập khẩu đã được xác định miễn thuế do thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế, nay thay đổi mục đích sử dụng nên phải khai, tính toán và nộp thuế nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu được vận chuyển đến Việt Nam bằng dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh nhưng không có hợp đồng mua bán và hóa đơn thương mại; Hàng hóa đi thuê, mượn nhằm tránh vướng mắc trong quá trình thực hiện.

LIEN ANH CORP

Vận tải đường biển

Vận tải hàng không

Dịch vụ khai hải quan

Gửi hàng nhanh

Dịch vụ ủy thác XNK

Vận tải nội địa

Tư vấn xuất nhập khẩu

Cơ hội giao thương

Cơ hội giao thương

Tuyển dụng

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

HOTLINE / ZALO
0932 706 990

THỦ TỤC HẢI QUAN
0903 687 383

VẬN CHUYỂN QUỐC TẾ - XUẤT NHẬP
0985 401 423

VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA
0903 687 383

CHỨNG NHẬN C/O - KIỂM DỊCH
0348 167 467

Email
info@lienanhcorp.com

BÀI VIẾT XEM NHIỀU

FACEBOOK LIEN ANH

THUÊ XE PHÚ KHANG